Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số:43/2024/HS-ST

Ngày 11-11-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nhan Ngọc Đăng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Xuân Hòa và ông Trần Lương Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Anh T (tên gọi khác: không có), sinh ngày 16/10/1986 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Lê Phước B và Nguyễn Thị C; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 27/4/2020, bị Công an P, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ-XPHC, đã thi hành xong năm 2020.

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1985; địa chỉ: thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 14/8/2024, Lê Anh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 74D1-143.48 của chị Nguyễn Thị Hiền T1 thành phố Đ theo hướng Quốc lộ A đến quán cắt tóc “Hằng” của chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị) để cắt tóc.

Khoảng 30 phút sau, chị H1 cắt tóc, gội đầu xong, T nói: “Hôm qua em nhậu khuya quá, chị cho em nằm nghỉ tí”, chị H1 đồng ý rồi T nằm nghỉ trên ghế sát góc tường phía Đông quán. Sau đó, nhờ chị H1 chuyển 100.000 đồng vào tài khoản số 0771000587810 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N của T đồng thời trả tiền mặt cho chị H1. Trong lúc nằm nghỉ T phát hiện chị H1 đặt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu trắng bạc, mặt lưng bị rạn nứt tại vị trí phía trên ghế nằm gội đầu nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Thấy chị H1 đang quét dọn quán, mặt hướng ra ngoài đường, T dùng tay trái lấy điện thoại di động bỏ vào túi quần bên trái rồi đi ra điều khiển xe mô tô về nhà tại thôn L, xã C, huyện C cất giấu điện thoại. Ngày 16/8/2024, khi được Cơ quan Công an mời đến làm việc, T khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-ĐGTS ngày 20/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện G có nội dung: “Trị giá 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 đã qua sử dụng, màu trắng, Imei 359214462234919, mặt kính ở lưng của điện thoại bị vỡ, không kiểm tra chi tiết bên trong, điện thoại mua mới vào tháng 3/2022 với giá 23.000.000 đồng. Trị giá của tài sản tại thời điểm ngày 14/8/2024 là 11.800.000 đồng”.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS-GL ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo. Và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và không có ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Trả cho chị Nguyễn Thị H chiếc xe mô tô BKS 74D1-143.48 kèm Giấy đăng ký xe số 013377.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về tội danh: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 14/8/2024, tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 trị giá 11.800.000 đồng của chị Nguyễn Thị H1. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo. Bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương chiến công hạng nhất”, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy HĐXX xét thấy cần áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hằng S tiền là 1.000.000 đồng, chị H1 đã nhận đủ và không có ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[5]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu trắng của chị H1. Việc Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với xe mô tô BKS 74D1-143.48 kèm Giấy đăng ký xe số 013377 của chị Nguyễn Thị H. Xét thấy, chị H đã mua chiếc xe mô tô trên vào năm 2014, đến năm 2017 thì chị H và bị cáo đăng ký kết hôn. Như vậy, chiếc xe này là tài sản riêng của chị H, không phải tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe này đi trộm cắp tài sản chị H không biết. Do đó, cần trả lại cho chị H xe mô tô BKS 74D1-143.48 kèm Giấy đăng ký xe số 013377.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Bị cáo được Hội đồng xét xử cho hưởng án treo, nên cần ra Quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Anh T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/11/2024.

    Giao bị cáo Lê Anh T cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an huyện Gio Linh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HSVA; tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nhan Ngọc Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Anh T "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger