Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-PT

Ngày: 16-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Hải.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Nhật Duật và ông Đinh Hải Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 53/2024/TLPT-HS ngày 11/6/2024 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Văn T, sinh ngày 11/01/1992 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: xóm B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Lê Văn K và bà Hoàng Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: anh Vũ Hải A, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu H, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

- Người làm chứng: anh Lê Văn L, anh Lê Văn N1, anh Trần Quốc T2, anh Ngô Quốc H, anh Nguyễn Văn T3, anh Trạch A D, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T và các anh Lê Văn L, Lê Văn N1 có quan hệ là anh em họ. Anh Vũ Hải A và anh L cùng làm ở nhà hàng T4 thuộc phường B, thành phố H.

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 07/8/2023, anh Lê Văn L tổ chức tiệc sinh nhật tại quán B của anh Ngô Quốc H ở Tổ C, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Anh L mời Lê Văn T, anh Lê Văn N1 cùng một số người bạn đến dự tiệc sinh nhật của mình. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi mọi người đang ăn uống vui vẻ thì, anh Vũ Hải A đi đến, nên anh L gọi và nói: “Hôm nay là sinh nhật em, anh vào ngồi ăn uống cùng”; anh Hài A đồng ý và ngồi cùng bàn đối diện với T, anh L, anh N1. Do trước đó đã uống bia và có biểu hiện say, nên khi vào ăn, anh Hải A trách móc anh L tổ chức sinh nhật không mời, rồi xưng hô mày tao với tất cả mọi người và chửi cả nhóm của anh L: “ĐM mày, ĐM chúng mày...”. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, anh Hải A chửi anh N1: “ĐM mày”, nên anh L đứng dậy bắt anh Hải A phải xin lỗi anh N1. Anh Hải A khiêu khích chửi anh L: “ĐM mày, tao xin lỗi được chưa”. Anh L đứng dậy chửi lại anh Hải A và nói: “Mày thích làm sao?”, thì anh N1 ngồi cạnh kéo tay can ngăn anh L. Bức xúc về thái độ của anh Hải A, nên T tay phải cầm 01 cốc bằng thuỷ tinh ném trúng vào gò má trái của anh Hải A, làm chiếc cốc thuỷ tinh bị vỡ; liền sau đó, anh L tay phải cầm cốc bằng thuỷ tinh ném trúng vào ngực anh Hải A, anh N1 tay phải cầm cốc thuỷ tinh ném trúng vào cẳng tay phải của anh Hải A; T tiếp tục dùng tay phải cầm bát sứ ném về phía người anh Hải A, nhưng không trúng; sau đó, anh N1 dùng tay phải kéo người anh Hải A ngã xuống đất, dùng tay trái tát 01 nhát trúng vào mặt anh Hải A. Lúc này, mọi người vào can ngăn, nên T và anh L, anh N1 không đánh nữa; thấy anh Hài A bị chảy máu ở vùng mặt, nên anh L và T chờ anh H1 Anh đến Bệnh viện Đ điều trị. Đến ngày 08/8/2023, bố đẻ của anh Hải A là ông Vũ Văn M đến Công an phường H trình báo.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 622 ngày 23/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Q kết luận thương tích của anh Vũ Hải A như sau: Sẹo vết thương mi dưới mắt trái-gò má trái hơi lượn cong, bờ mép nham nhờ kích thước nhỏ; gẫy cung tiếp gò má trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12% (mười hai phần trăm). Tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Ngày 20/8/2023, Lê Văn T, anh Lê Văn L, anh Lê Văn N1 đã tự nguyện bồi thường cho anh Vũ Hải A tổng số 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Anh Hải A không có yêu cầu gì khác và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T.

Đối với việc anh L dùng 01 cốc thuỷ tinh, anh N1 dùng 01 chiếc bát sứ và tay đánh anh Hải A nhưng không gây thương tích, hành vi của các anh này độc lập với T, không có tính đồng phạm, Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định xử phạt hành chính nên không đề cập xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 03/5/2024, Tòa án nhân dân TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/5/2024 bị cáo T làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 12 tháng tù giam là quá nặng so với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 03/5/2024, Tòa án nhân dân TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh: giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo T.

Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc mẹ già và nuôi dạy con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn T làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu; bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan, bị cáo không thắc mắc gì về tội danh. Hội đồng xét xử nhận thấy: lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án, vì vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

  • - Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt 12 tháng tù là đã xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như lỗi của bị hại. Sau xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt mà chỉ xin được hưởng án treo, Viện kiểm sát không kháng nghị và bị hại không kháng cáo về hình phạt, do vậy mức hình phạt 12 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp.
  • - Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp cho Toà án 01 đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo có hoàn gia đình cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ nông nghiệp có thu nhập thấp, bố mất sớm, vợ đã ly hôn, bản thân là lao động chính trong gia đình, hiện một mình đang nuôi 01 mẹ già 65 tuổi, 01 em trai 20 tuổi đang học đại học tại Hải Phòng và đang trợ cấp nuôi 01 con sinh 2018 đang học mầm non, có bác ruột là liệt sĩ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo.

Xét thấy: do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, một mình nuôi mẹ già, 01 em trai đang học đại học và đang trợ cấp nuôi 01 con nhỏ đang độ tuổi mầm non, có bác ruột là liệt sĩ, thương tích bị cáo gây ra cho bị hại không lớn, tích chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo không quyết liệt, mặt khác bị hại cũng là người có lỗi để xảy ra sự việc và có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đối chiếu với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh: giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội: “Cố ý gây thương tích".

Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CA, VKS, TAND, Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hô sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 43/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: bị cáo Lê Văn Tự 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội: “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger