Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ RIỀNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-7-2024

V/v “Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Tấn Trường
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Khuyến
  • Ông Nguyễn Sỹ Luận
  • - Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Duyên -Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2024/TLST-HN&GĐ ngày 06/6/2024 về việc “Ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Tr, sinh năm 1988.
  • Địa chỉ: Thôn p, xã p, huyện p, tỉnh Bình Phước.
  • - Bị đơn: Ông Trương Văn Ng, sinh năm 1989.
  • Địa chỉ: Thôn p, xã p, huyện p, tỉnh Bình Phước.
  • - Người có và lợi ích được bảo vệ:
  • + Cháu Trương Nam Ph, sinh năm 2012;
  • + Cháu Trương Tuệ đ, sinh năm 2016.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Thị Trâm trình bày:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trương Văn N tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã p vào ngày 12/4/2012.

Qúa trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp với nhau về tính cách, thường xuyên cãi nhau, dẫn đến vợ chồng không thể sống chung được nữa, hiện tại vợ chồng đang sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Bà xác định cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không đạt được mục đích chung sống nên ông yêu câu được ly hôn với ông Trương Văn Ng.

[2] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Nam Ph, sinh năm 2012, cháu Trương Tuệ Đ, sinh năm 2016. Hiện cháu Đ đang sống chung với bà, còn cháu Ph thì sống với ông Ng và ông bà nội. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Đ và giao cháu Ph cho ông Ng trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng không yêu cầu giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Văn Ng trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Tr là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định. Từ năm 2022 đến nay thì vợ chồng mâu thuẫn nhau nên sống ly thân. Ông đồng ý ly hôn với bà Tr.

Về con chung, ông đề nghị được trực tiếp nuôi con chung là cháu Trương Nam Ph, sinh năm 2012 và đồng ý giao cháu Trương Tuệ Đ, sinh năm 2016 cho bà Trâm trực tiếp nuôi. Cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, 56 của Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Tr. Về con chung thống nhất giao con chung cháu Trương Tuệ Đ, sinh năm 2016 cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trương Nam Ph, sinh năm 2012 cho ông Ng trực tiếp nuôi dưỡng; cấp dưỡng không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
  2. Bà Lê Thị Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Trương Văn Ng có nơi thường trú tại Thôn p, Xã p, huyện p, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn và nuôi con chung”. Căn cứ các Điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

    Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Tr, bị đơn ông Trương Văn Ng vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  3. Về nội dung vụ án:
    1. Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Tr, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa bà Tr, ông Ng là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2012 tại UBND xã p.
    2. Cả bà Tr và ông Ng điều thừa nhận hôn nhân của vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cả hai hiện đang sống ly thân và xác định không thể sống chung với nhau được nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, giải thích cho bà Tr, ông Ng các hệ lụy, hậu quả xảy ra khi ly hôn để vợ chồng đoàn tụ tiếp tục chung sống với nhau. Tuy nhiên, các bên xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì đời sống hôn nhân, ông Ng cũng đồng ý ly hôn với bà Tr. Điều này cho thấy hôn nhân giữa bà Tr, ông Ng đã trở lên trầm trọng, mục đích chung sống hạnh phúc không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tr bà Tr được ly hôn với ông Ng.

    3. Về việc nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu Trương Nam Ph, sinh năm 2012, cháu Trương Tuệ Đ, sinh năm 2016. Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Hiện cháu Ph đang sống chung với ông n và ông bà nội, còn cháu Đ thì đang sống chung với bà Tr. Cả bà Tr và ông Ng điều thống nhất đề nghị giao cháu Ph cho ông Ng trực tiếp nuôi và giao cháu Đ cho bà Tr trực tiếp nuôi, việc đề nghị này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Ph và cháu Đ nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
    4. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  4. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị T chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39 và Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51; 53; 56, 80, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Tr được ly hôn với ông Trương Văn Ng. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Tr và ông Trương Văn Ng chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
    • + Giao con chung cháu Trương Nam Ph, sinh năm 2012 cho ông Trương Văn Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
    • + Giao con chung cháu Trương Tuệ Đ, sinh năm 2016 cho bà Lê Thị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Tr phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011260 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Phú Riềng;
  • - THADS huyện Phú Riềng;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã p;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Đỗ Tấn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger