|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày 29/8/2024 V/v “Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phước Hoà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Kim Thành.
- Ông Nguyễn Văn Đời.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Thư ký Toà án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Nguyễn Diệu Ny - Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S - Địa chỉ: số nhà 25 đường H, quận S, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Cao Văn P, sinh năm: 1993. Nơi cư trú: 52 N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Bị đơn: Bà Hoàng Thị Mai T, sinh năm 2000. Nơi cư trú: P tầng D Chung cư V, tổ I phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến trong quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Cao Văn P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Hoàng Thị Mai T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 18 tháng 01 năm 2024, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 18 tháng 01 năm 2024). Sau khi đăng ký kết hôn hai chúng tôi chung sống tại 52 N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng được một thời gian ngắn thì bà T bỏ đi. Từ đó đến nay hai chúng tôi sống ly thân nhau, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay tôi xác định tôi không còn tình cảm gì với bà Hoàng Thị Mai T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn.
- Về con chung: Tôi và bà Hoàng Thị Mai T không có con chung.
- Về tài sản chung: Tôi và bà Hoàng Thị Mai T không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Tôi và bà Hoàng Thị Mai T không có nợ chung.
* Bị đơn - bà Hoàng Thị Mai T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà không đến Tòa nên không thu thập được lời khai của bà trong trong quá trình tố tụng và bà cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn liên tục vắng mặt tại các phiên họp, phiên toà nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về quan hệ hôn nhân: căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Cao Văn P đối với bà Hoàng Thị Mai T.
* Về con chung: ông Cao Văn P và bà Hoàng Thị Mai T chưa có con chung nên không đề cập đến.
* Về tài sản chung và nợ chung: ông Cao Văn P xác định ông và bà Hoàng Thị Mai T không có tài sản chung và nợ chung; còn bà Hoàng Thị Mai T thì vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Cao Văn P đối với bà Hoàng Thị Mai T là tranh chấp về hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
Bà Hoàng Thị Mai T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Hoàng Thị Mai T là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: ông Cao Văn P và bà Hoàng Thị Mai T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 18/01/2024, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận kết hôn số 13, do Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 18/01/2024). Hôn nhân của hai ông bà phù hợp với các quy định của pháp luật về điều kiện và thủ tục kết hôn, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Cao Văn P thì thấy, mặc dù bà Hoàng Thị Mai T không có mặt, không thu thập được lời khai của bà nhưng căn cứ vào lời trình bày của ông Cao Văn P thì sau khi đăng ký kết hôn hai ông bà chỉ chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì bà T bỏ đi và hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Lời trình bày của ông Cao Văn P cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Toà án cũng đã mở phiên hoà giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn tình cảm nhưng bà Hoàng Thị Mai T thường xuyên vắng mặt, chứng tỏ bà cũng không tha thiết gì đến cuộc hôn nhân này. Vì vậy, nếu cứ kéo dài cuộc hôn nhân của ông bà như hiện nay thì sẽ không đạt được mục đích. Do đó, cần căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Cao Văn P là phù hợp.
[3] Về con chung: ông Cao Văn P và bà Hoàng Thị Mai T chưa có con chung nên không đề cập đến.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: ông Cao Văn P xác định ông và bà Hoàng Thị Mai T không có tài sản chung và nợ chung; còn bà Hoàng Thị Mai T thì vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên HĐXX không đề cập giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
[5] Về án phí: căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30.12.2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” ông Cao Văn P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là: 300.000 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông Cao Văn P đã nộp tại biên lai thu số 0002720 ngày 09.7.2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30.12.2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Cao Văn P đối với bà Hoàng Thị Mai T.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: ông Cao Văn P được ly hôn với bà Hoàng Thị Mai T.
- Về án phí: ông Cao Văn P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là: 300.000 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông Cao Văn P đã nộp tại biên lai thu số 0002720 ngày 09.7.2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận S.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phước Hòa |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Cao Văn P đối với bà Hoàng Thị Mai T
