Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 8 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Thành

Ông Nguyễn Văn Kiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1978; cư trú tại: Số N, tổ A, ấp Y, xã P, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Yang, Ming - T, sinh năm 1966; cư trú tại: Số R, lộ S, khóm G, phường M, khu L, thành phố Đ, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện 15/6/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thúy H trình bày: Bà và ông Yang, Ming - T kết hôn vào ngày 30 tháng 6 năm 2015, đăng ký tại Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hôn nhân do mai mối. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được khoảng 10 ngày thì ông Yang, Ming – T trở về Đài Loan. Ông Yang, Ming – T làm thủ tục bảo lãnh bà qua Đài Loan để vợ chồng chung sống nhưng qua 3 lần phỏng vấn đều không đậu. Sau đó, bà và ông Yang, Ming – T phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, ngôn ngữ, không có tiếng nói chung. Bà và ông Yang, Ming – T không còn liên lạc với nhau từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thúy H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Yang, Ming – T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thúy H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Yang, Ming – T được Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp theo quy định để tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Yang, Ming – T về việc bà Nguyễn Thúy H khởi kiện ly hôn với ông. Tuy nhiên, ông Yang, Ming – T không gửi ý kiến về Tòa án và không có mặt để tham dự phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 238 và Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vắng mặt đối với bà Nguyễn Thúy H và ông Yang, Ming – T.

[2] Bà Nguyễn Thúy H và ông Yang, Ming – T kết hôn vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thúy H là công dân Việt Nam với ông Yang, Ming – T quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết.

[3] Nhận thấy bà Nguyễn Thúy H và ông Yang, Ming – T kết hôn do mai mối, việc tìm hiểu nhau chưa kỹ. Theo bà Nguyễn Thúy H trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm và ngôn ngữ, không có tiếng nói chung. Bà và ông Yang, Ming – T không còn liên lạc với nhau từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay. Xét thấy hai người ở hai nước khác nhau, trong thời gian dài không còn liên lạc với nhau, điều này thể hiện không còn chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, quan hệ hôn nhân giữa hai người chỉ tồn tại trên hình thức, thực chất tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy có căn cứ để xác định bà Nguyễn Thúy H và ông Yang, Ming – T đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc bà Nguyễn Thúy H yêu cầu ly hôn với ông Yang, Ming – T là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Nguyễn Thúy H khai không có và không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thúy H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được quy định tại khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Tại phiên Tòa vị Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị: chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, áp dụng đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy H;
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thúy H được ly hôn với ông Yang, Ming – T.
    2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Nguyễn Thúy H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Án phí và chi phí tố tụng:

    Bà Nguyễn Thúy H chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000433 ngày 11/10/2023 và số tiền 200.000 đồng đã nộp tạm ứng chi phí ủy thác ra nước ngoài theo biên lai thu số 0014824 ngày 01/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

  3. Về thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thúy H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn ông Yang, Ming – T được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TANDCC: 01b;

- VKSNDTVL: 02b

- CATANDTVL: 01b;

- THADSTVL: 02b;

- UBNDTVL: 01b;

- Đ/sự: 02b;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án: 04b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Thúy H với ông Yang, Ming-T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger