Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ -ST

Ngày: 12 - 12 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên;

Bà Phan Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân An - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xét xử số C, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Lê Tiến V, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn V, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn anh Lê Tiến V trình bày:

Anh Lê Tiến V và chị Lê Thị Trà Y nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/8/2012 tại UBND xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và hiện nay chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên anh V yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh V được ly hôn chị Lê Thị Trà .

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 21/5/2014, hiện anh V đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, nguyện vọng của anh V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại biên bản ghi lời khai của đương sự ngày 07/11/2024, ông Lê Đăng V1 (bố chị Lê Thị T) trình bày:

Quá trình chung sống giữa chị T và anh V đã sống ly thân; 02 vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Minh C hiện đang sống cùng anh V, việc ly hôn giữa anh V và chị T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc nhận các văn bản tố tụng ông Lê Đăng V1 nhận và cam đoan thông báo cho chị Lê Thị T biết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tiến V được ly hôn với chị Lê Thị Trà .
  • - Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 21/5/2014 cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
  • - Về án phí: Anh Lê Tiến V phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1.] Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Lê Tiến V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Trà . Căn cứ Công văn số 1478/PA08 (Đ1) ngày 20/9/2024 của Phòng Q Công an tỉnh Q xác nhận: Chị Lê Thị T đã xuất cảnh ra nước ngoài vào ngày 07/02/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam.

Trước và sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn và thân nhân của bị đơn không cung cấp địa chỉ nơi làm việc ở nước ngoài của bị đơn nhưng bị đơn vẫn liên lạc với gia đình thông qua điện thoại, nên được coi là trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, do đó Tòa án căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành các thủ tục để mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông qua người thân của bị đơn là ông Lê Đăng V1 (bố chị T). Tuy nhiên, tại phiên tòa lần thứ 02 chị Lê Thị T vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn anh Lê Tiến V có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Tiến V với chị Lê Thị T là hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 07/8/2012 tại UBND xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Theo anh V trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; anh V thấy tình cảm vợ chồng không còn và hiện nay hai vợ chồng sống ly thân, chị T đang đi xuất khẩu tại Đài Loan nên làm đơn yêu cầu Tòa án được giải quyết cho được ly hôn chị Lê Thị Trà .

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh V, chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung của hai vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng hiện sống ly thân nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Lê Tiến V được ly hôn với chị Lê Thị T là phù hợp.

[2.2] Về con chung:

Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 21/5/2014, hiện anh V đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh Lê Tiến V có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc Minh C và không yêu cầu chị Lê Thị T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái là trách nhiệm của bố, mẹ. Tuy nhiên, hiện nay chị Lê Thị T đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài chưa về nước. Anh V là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu C muốn ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, cần giao cháu C cho anh V chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh V không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung nên không buộc chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Lê Tiến V phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 ; Điều 238; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Tiến V được ly hôn với chị Lê Thị Trà .
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Minh C, sinh ngày 21/5/2014 cho anh Lê Tiến V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Lê Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Anh Lê Tiến V phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí Hôn nhân vfa gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000151 ngày 02/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Anh Lê Tiến V đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Q.Trị;
  • - UBND xã Giang Sơn Tây, H Đô Lương, T Nghệ An;
  • - TỔ HCTP;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hồng Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ -ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến V ly hôn với Lê Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger