|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 08 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Lý – Bà Đình Thị Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái: Không tham gia phiên tòa
Ngày 29 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 229/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 07 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 08 năm 2024 và thông báo mở lại phiên tòa số 23/2024/TB-XX ngày 19 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Quang Đ, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 07 năm 2024 và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Quang Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 04 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tính không hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi xúc phạm nhau. Một vài lần anh Đ có tát chị H. Mâu thuẫn đã được vợ chồng tìm cách hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Toà án nhân dân thành phố Yên Bái giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Quang Đ.
Về nuôi con: Chị và anh Bùi Quang Đ có hai con chung là cháu Bùi Anh T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và cháu Bùi Anh V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2009. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con, chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 02 tháng 07 năm 2024 bị đơn anh Bùi Quang Đ trình bày:
Về hôn nhân: Thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị H đã trình bày là đúng. Mâu thuẫn vợ chồng đã tìm cách hòa giải nhưng chưa cải thiện được. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được đoàn tụ với chị Trần Thị H.
Về nuôi con: Anh thống nhất với chị H, anh chị có hai con chung như chị H trình bày. Nếu phải ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, anh yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về chia tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Tòa án đã mở phiên hòa giải vào ngày 11 tháng 07 năm 2024 nhưng tại phiên hòa giải, anh Đ đã bỏ về không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân:
Chị Trần Thị H và anh Bùi Quang Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết, chị H và anh Đ đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh Đ bỏ về không lý do thể hiện anh Đ không thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, được chấp nhận.
[3] Về nuôi con:
Chị Trần Thị H và anh Bùi Quang Đ có hai con chung là cháu Bùi Anh T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và cháu Bùi Anh V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2009,
Việc giao con chung chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục trước hết phải đảm bảo quyền lợi và không làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con. Xét thấy: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con của chị H1 và anh Đ là chính đáng. Tuy nhiên, cháu T, cháu A cùng có nguyện vọng ở với chị H, khi chị H và anh Đ ly hôn nên giao cháu T, cháu A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chia tài sản :
Chị Trần Thị H và anh Bùi Quang Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí:
Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Bùi Quang Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị H được ly hôn anh Bùi Quang Đ
- Về nuôi con:
Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Anh T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và cháu Bùi Anh V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2009, cho đến khi cháu T, cháu V đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.
Anh Bùi Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí:
Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2024/0000965 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái ngày 02/07/2024.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Yên Bái;
- - VKSND thành phố Yên Bái;
- - Chi cục THADS thành phố Yên Bái;
- - UBND x.M, h.Y, t.Yên Bái;
- - Các đương sự;
- - Lưu: VT, TA, HSVA.
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Tuyến |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Bùi Quang Đ 2. Về nuôi con: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Anh T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2010 và cháu Bùi Anh V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2009, cho đến khi cháu T, cháu V đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Bùi Quang Đ không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn
