|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 43/2024/HNGĐ - ST Ngày: 21/5/2024. “V/v tranh chấp xin ly hôn". |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Quách Văn Quy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Danh On |
| Bà Lê Thị Tuyết Trinh | |
| Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. | |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 56/2024/TLST - HNGĐ, ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Lâm Thị B, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 1990, ông H và bà B có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng ông H, bà B chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng ông bà không hợp nhau nên thường xuyên cãi nhau từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và ông H và bà B đã ly thân với nhau khoảng 01 năm cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông H yêu cầu xin ly hôn với bà Lâm Thị B.
Về con chung: Ông H xác định ông và bà B có với nhau 03 người con tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1992; Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị N, sinh năm 2004. Hiện nay con ông đã trưởng thành nên ông H không có yêu cầu gì.
Về tài sản chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, ông H không yêu cầu gì khác.
* Bị đơn bà Lâm Thị B trình bày:
Về hôn nhân: Bà B và ông H có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán cách nay 36 năm nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng bà B, ông H chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn do cách đây gần 01 năm ông H có tình cảm với người phụ nữ khác nên bà B và ông H đã ly thân với nhau khoảng 01 năm cho đến nay. Nay ông Nguyễn Văn H yêu cầu xin ly hôn với bà B thì bà B đồng ý.
Về con chung: Bà B xác định bà và ông H có với nhau 03 người con tên Nguyễn Thị D, sinh năm 1992; Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 và Nguyễn Thị N, sinh năm 2004. Hiện nay con bà đã trưởng thành nên bà B không có yêu cầu gì.
Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà B không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B là vợ chồng.
2. Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B xác định các con của ông H và bà B đã trưởng thành nên không yêu cầu, do đó không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ngoài ra, đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Lâm Thị B nên căn cứ khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Lâm Thị B có nơi đăng ký thường trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bà B. Bị đơn bà Lâm Thị B vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà B.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H yêu cầu xin ly hôn với bà Lâm Thị B, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông H thừa nhận vào năm 1990 có tổ chức đám cưới với bà Lâm Thị B trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay ông, bà chưa có đăng ký kết hôn. Nay ông H xin ly hôn với bà B thì bà B cũng đồng ý. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B là vợ chồng.
[5] Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B xác định các con của ông bà đã trưởng thành nên không yêu cầu, do đó không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về quan hệ tài sản chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn H phải chịu số tiền 300.000₫.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B là vợ chồng.
2/ Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn H và bà Lâm Thị B xác định các con của ông bà đã trưởng thành nên không yêu cầu, do đó không đặt ra xem xét, giải quyết.
3/ Về quan hệ tài sản chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị B không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn H phải nộp 300.000 đồng. Do ông H đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007542, ngày 04/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Văn Quy |
Bản án số 43/2024/HNGĐ - ST ngày 21/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu ly hôn
