Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07 - 5 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh; ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 39/2024/TLST - HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐ-ST ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đặng Ngọc T, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

2. Bị đơn: Chị Hồ Thị T1, sinh năm 1995; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Hungary. Vắng mặt

3. Người tham gia tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ chị T1); Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc T và chị Hồ Thị T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 10/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân nhau. Năm 2021 chị T1 đi lao động tại Hungary có về Việt Nam một lần sau đó quay trở lại H cho đến nay chưa về Việt Nam và cũng từ đó mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do tính cách không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, nuôi dạy con cái, kinh tế nên dẫn đến không quan tâm đến nhau cũng như không còn tình cảm với nhau.

Nay, anh T nhận thấy cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn.

Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đặng Ngọc T và chị Hồ Thị T1 có 01 con chung là Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018. Anh T và chị T1 thống nhất giao con chung Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018 cho chị Hồ Thị T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Đặng Ngọc T đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Đặng Ngọc T có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai ngăn cản. Trong thời gian chị T1 chưa về Việt Nam, bà Nguyễn Thị T2 mẹ đẻ chị T1 tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đặng Yến N cho đến khi chị T1 về Việt Nam.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình chị Hồ Thị T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị nhất trí như ý kiến trình bày của anh Đặng Ngọc T về thời gian, địa điểm kết hôn cũng như thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian xảy ra mâu thuẫn và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được nên anh T làm đơn yêu cầu ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Chị Hồ Thị T1 cho biết trong thời kỳ hôn nhân, chị T1 và anh T có 01 con chung là Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018, từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay cháu sống cùng với bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ chị T1) được bà chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, chị và anh T thống nhất giao con chung cho chị chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn chi đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ngoài ra, chị Hồ Thị T1 cho biết hiện nay chị đang lao động tại Hungary, chị không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị tại Hungary và do tính chất công việc đi lại khó khăn nên chị không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án. Vì vậy, chị Hồ Thị T1 đề nghị giải quyết vắng mặt chị và chị ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ chị Hồ Thị T1); địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

- Người tham gia tố tụng khác bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Cháu Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018 từ khi chị T1 đi lao động nước ngoài đến nay cháu ở với bà, được bà chăm sóc tốt. Do đó bà xin được tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đặng Yến N thay chị T1 cho đến khi chị T1 về Việt Nam và hiện nay chị T1 con gái bà đang lao động tại Hungary không thể về Việt Nam để giải quyết vụ việc nên bà đồng ý nhận các tài liệu tố tụng của Tòa án gửi cho chị T1, bà cam đoan sẽ thông báo cho chị T1 được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 227, 228, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

- Về tình cảm: Xử cho anh Đặng Ngọc T được ly hôn với chị Hồ Thị T1.

- Về con chung: Giao con chung Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018 cho chị Hồ Thị T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Đặng Ngọc T đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Đặng Ngọc T có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai ngăn cản. Trong thời gian chị T1 chưa về Việt Nam, bà Nguyễn Thị T2 mẹ đẻ chị T1 tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đặng Yến N cho đến khi chị T1 về Việt Nam.

- Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu nên miễn xét.

- Về án phí: Buộc anh Đặng Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị Hồ Thị T1 hiện đang sinh sống, lao động tại Hungary, tại công căn xuất nhập cảnh số 4686/QLXNC-P3 ngày 07/3/2024 của Cục Q Bộ C xác nhận: Chị Hồ Thị T1 xuất cảnh gần nhất vào ngày 14/01/2021 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị Hồ Thị T1 trình bày vì điều kiện công việc, không thể có mặt trực tiếp để giải quyết vụ án và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và chị ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ chị Hồ Thị T1); địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Hồ Thị T1 theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc T và chị Hồ Thị T1 tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày ngày 10/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã lâu, giữa anh T và chị T1 không còn tiếng nói chung, không đồng nhất trong cuộc sống hôn nhân. Mặt khác, hiện nay chị T1 đang lao động tại Hungary, do khoảng cách về địa lý nên mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 cũng không thể hóa giải được, cuộc sống hôn nhân nhân cũng không có hạnh phúc.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng cuộc hôn nhân của anh T và chị T1 không đạt được điều đó. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đặng Ngọc T xử cho anh Đặng Ngọc T được ly hôn chị Hồ Thị T1.

[2.2] Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đặng Ngọc T và chị Hồ Thị T1 có 01 con chung là Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù chị T1 đang sinh sống và lao động ở Hungary không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, tuy nhiên từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay, cháu Đặng Yến N sống cùng với bà Nguyễn Thị T2 (mẹ đẻ chị T1), cháu được bà T2 chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, phát triển đầy đủ thể chất lẫn tinh thần. Anh T và chị T1 thống nhất giao con chung Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018 cho chị Hồ Thị T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Đặng Ngọc T đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi. Trong thời gian chị T1 chưa về Việt Nam, bà Nguyễn Thị T2 mẹ đẻ chị T1 tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đặng Yến N cho đến khi chị T1 về Việt Nam. Qua xem xét, thấy rằng lâu nay cháu sống với bà T2, bà T2 đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dạy cháu nên việc chị T1 nhờ bà T2 là việc cá nhân của chị T1 và phù hợp với pháp luật. Xét thấy, sự thỏa thuận của chị T1 và anh T là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đặng Ngọc T và chị Hồ Thị T1 không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 227, 228, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đặng Ngọc T được ly hôn với chị Hồ Thị T1.

2. Về con chung: Giao con chung Đặng Yến N, sinh ngày 18/01/2018 cho chị Hồ Thị T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Đặng Ngọc T đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng kể từ tháng 5/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Đặng Ngọc T có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.

3. Về án phí: Anh Đặng Ngọc T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh T đã nộp tại biên lai số 0000800 ngày 28/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Đặng Ngọc T còn phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND cấp cao tại Hà Nội;

- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;

- Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;

- UBND xã Xuân Liên;

- Các đương sự;

- Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh Đặng Ngọc T và chị Hồ Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger