|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-PT Ngày: 10-12-2024 V/v tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
---
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Ngọc Mai |
| Các Thẩm phán: | Ông Cao Nhật Thanh; |
| Ông Bùi Ngọc Thạch. |
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 106/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 47/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mỹ T, sinh năm 1979; địa chỉ: số A khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: Công ty TNHH S; số 30, đường số F, khu công nghiệp V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- - Bị đơn: Ông Phạm Trần V, sinh năm 1980; địa chỉ: số 52/50 Nguyễn Huệ, phường B, thành phố V, tỉnh V; địa chỉ liên hệ: số A khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ T.
- - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ T trình bày:
Bà Bùi Thị Mỹ T và ông Phạm Trần V là vợ chồng và đã ly hôn theo Bản án số 19/2022/HNGĐ-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Khi ly hôn các bên chưa thỏa thuận giải quyết về tài sản chung. Nay bà T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung sau khi ly hôn là khối tài sản chung gồm:
- Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m² tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp cho bà Bùi Thị Mỹ T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 319267, số vào sổ cấp GCN: CH03084/AT ngày 10/9/2013.
- Chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27 do bà Bùi Thị Mỹ T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký.
Ngoài ra, trước khi kết hôn với ông V thì bà T có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và bà T đã được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 078566 ngày 17/12/2004. Sau khi kết hôn với ông V thì ông V, bà T xây dựng nhà để cùng sinh sống trên thửa đất nêu trên. Sau khi ly hôn, ông V nhiều lần nóng nảy, lớn tiếng với bà T và để các con có môi trường sống tốt và bình an nên bà T quyết định dọn đi nơi khác sinh sống. Từ đó cho đến nay, ông V sinh sống trên phần diện tích đất của bà T.
Nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ T xác định tài sản chung của bà T và ông V tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân gồm: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m² tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27; căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà T đề nghị chia đôi tài sản chung này, bà Thu N ½ giá trị bằng tiền.
Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là tài sản riêng của bà Bùi Thị Mỹ T. Tuy nhiên, do ông V có công sức gìn giữ, tôn tạo đối với quyền sử dụng đất nêu trên nên bà T đồng ý chia cho ông Phạm Trần V 30% giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Bà T sẽ nhận hiện vật đối với nhà, đất thuộc đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2). Bên nào nhận hiện vật có giá trị cao hơn thì có trách nhiệm bồi hoàn cho bên kia.
- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Trần V trình bày:
Bị đơn ông Phạm Trần V cho rằng tài sản chung của ông V và bà T gồm quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m²
3
tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; 01 chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27; quyền sử dụng đất và tài sản thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Các tài sản tên đều do bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận đăng ký xe.
Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của ông V và bà T do trước khi bà T và ông V đăng ký kết hôn thì mẹ của ông V cho tiền ông V để mua thửa đất nêu trên. Ông V đứng ra ký hợp đồng với ông T1 để nhận chuyển nhượng và nhờ ông N1 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc đó, ông V để một mình bà T đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng nên khi cấp giấy chứng nhận chỉ có một mình bà T đứng tên. Sau khi kết hôn, bà T và ông V xây dựng nhà và cùng sinh sống trên thửa đất nên trên. Sau khi ly hôn đến nay ông V vẫn đang quản lý, sử dụng đối với thửa đất và tài sản trên đất.
Do đó, ông V không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Mỹ T. Ông V xin được nhận hiện vật đối với quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương
Giao quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m² tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương và 01 chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27 cho bà Bùi Thị Mỹ T quản lý, sử dụng.
Bên nào nhận hiện vật có giá trị cao hơn thì có trách nhiệm bồi hoàn giá trị chênh lệch cho bên kia.
Bản án sơ thẩm số: 106/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ T với bị đơn ông Phạm Trần V về việc tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
- Bà Bùi Thị Mỹ T được quyền quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất 300m² (trong đó có 80m² đất ODT và 21,6m² đất CLN thuộc HLBVĐB) thuộc thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Phạm Trần V được quyền quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất 118,8m² (trong đó có 90m² đất ODT và 28,8m² đất CLN; có 14,4m² đất CLN thuộc HLBVĐB) cùng tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và 01 chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai, số loại Kona, dung tích xy lanh 1999, biển số 61A-817.27, số máy: G4NHLW677265, số khung: RLUK181ABLN013509.
4
- - Bà Bùi Thị Mỹ T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Trần V số tiền 390.477.600 đồng (ba trăm chín mươi triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm đồng).
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn bà T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An có Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKS-DS ngày 18/9/2024 kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng công nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là tài sản chung của ông V, bà T và chia cho ông V nhận 40% giá trị và bà Thu nhận 60% giá trị tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng:
Những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu được quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H và 01 căn nhà gắn liền với đất là có cơ sở, vì sau khi ly hôn, nguyên đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chưa thành niên, cần tạo điều kiện và đảm bảo quyền lợi của các con nên yêu cầu của nguyên đơn được nhận hiện vật nhà, đất này là có căn cứ chấp nhận. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát, có căn cứ chấp nhận tài sản nhà, đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) là tài sản chung của bà T và ông V; khi chia tài sản cần xem xét đến nguồn gốc, công sức đóng góp và chia cho ông V nhận 40% giá trị tài sản và chia cho bà T 60% giá trị tài sản và được nhận bằng hiện vật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa một phần bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà T làm trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn xác định chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không kháng cáo các phần khác nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.1] Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự thì bà T và ông V kết hôn năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long và đã ly hôn theo Bản án số 19/2022/HNGĐ-ST ngày
5
15/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; khi ly hôn các đương sự chưa yêu cầu giải quyết về chia tài sản.
- [2.2] Về tài sản tranh chấp:
- [2.2.1] Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m² được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp cho bà Bùi Thị Mỹ T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 319267, số vào sổ cấp GCN: CH03084/AT ngày 10/9/2013 tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/7/2023 (bút lục số 164) thì trên thửa đất có tồn tại một nhà kho có diện tích 183,8m² nhưng các đương sự đã tháo dỡ toàn bộ nhà kho theo biên bản xác minh Tòa án cấp sơ thẩm lập ngày 06/8/2024 thì trên thửa đất nêu trên không có tài sản) và 01 chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27 do bà Bùi Thị Mỹ T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Nguyên đơn và bị đơn thống nhất các tài sản nêu trên là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.2.2] Đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn cho rằng đây là tài sản riêng của nguyên đơn hình thành trước khi kết hôn với bị đơn, yêu cầu nhận hiện vật đối với nhà, đất này và nguyên đơn đồng ý chia cho ông V 30% giá trị quyền sử dụng đất. Bị đơn ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) là do mẹ của bị đơn cho tiền mua trước khi kết hôn với nguyên đơn và bị đơn để nguyên đơn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét thấy : theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T cung cấp thể hiện thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) được bà Thu nhận chuyển nhượng và được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi đăng ký kết hôn với ông V. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T (từ bút lục 96 đến bút lục số 143) thì bà T là đứng tên nhận chuyển nhượng và là người thực hiện các thủ tục đăng ký kê khai, đăng ký biến động về quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư đối với thửa đất này. Ông V cho rằng cùng bà T ký hợp đồng đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này nhưng ông V không có chứng cứ chứng minh. Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng bà Trần Thị L (bút lục số 198), bà L cũng không có chứng cứ chứng minh việc bà cho ông V 70.000.000 đồng để mua đất. Xét thấy lời trình bày của ông V và bà L không có chứng cứ chứng minh, đồng thời bà L là mẹ ruột của ông V nên không khách quan, bị đơn không có chứng cứ khác chứng minh, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở xem xét trình bày. Bản án sơ thẩm đã xác định
6
quyền sử dụng đất thuộc thửa số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) là tài sản riêng của bà Bùi Thị Mỹ T theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình và chia công sức gìn giữ, tôn tạo cho ông V 30% giá trị quyền sử dụng đất, 50% giá trị căn nhà là phù hợp. Sau khi có bản án sơ thẩm, bị đơn không kháng cáo yêu cầu Tòa án xem xét lại quyền lợi của bị đơn, tuy nhiên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An có quyết định kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, yêu cầu xác định nhà và đất thuộc thửa số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) tọa lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là tài sản chung và chia cho bị đơn 40%, nguyên đơn 60% giá trị tài sản. Xét thấy, bị đơn không kháng cáo và không có chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất là tài sản bị đơn tạo lập nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An.
- [2.3] Nguyên đơn đồng ý với tỷ lệ chia tài sản của Tòa án cấp sơ thẩm, chỉ kháng cáo yêu cầu được nhận hiện vật là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) và toàn bộ tài sản gắn liền với đất toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T; giao lại thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m² tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho bị đơn. Đối với 01 chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27 do bà Bùi Thị Mỹ T đứng tên: Tòa án cấp sơ thẩm giao xe cho bị đơn, nguyên đơn nhận 50% giá trị xe, nguyên đơn không kháng cáo nội dung này.
Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc nhận hiện vật thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B):
Xét thấy, khi ly hôn, do mâu thuẫn không thể chung sống với ông V nên bà T và 03 người con buộc phải chuyển đến nơi khác sinh sống. Bà T là chủ hộ và có đăng ký hộ khẩu cho 03 người con chung tại địa chỉ nêu trên. Ông V mặc dù cư trú tại địa chỉ nêu trên nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký thường trú hoặc tạm trú theo quy định. Sau khi ly hôn, bà T là người nuôi dưỡng 03 con chung, ông V không cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em, tạo thuận lợi cho bà T trong việc chăm sóc con chung, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho nguyên đơn nhận hiện vật là quyền sử dụng đất thửa 677, tờ bản đồ số 3 (B2) và tài sản gắn liền với thửa đất là để đảm bảo cho các con chưa thành niên ổn định trong sinh hoạt, học tập, vui chơi, tạo điều kiện cho các cháu được phát triển toàn diện. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm, giao hiện vật là nhà, đất thuộc thửa 677, tờ bản đồ số 3 (B2) cho bà T quản lý, sử dụng. Giao lại quyền sử dụng thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) có diện tích 300m² (trong đó có 80m² đất ODT và 21,6m² đất CLN thuộc HLBVĐB) tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho bị đơn quản lý, sử dụng.
- [2.4] Do việc giao lại hiện vật trong phạm vi kháng cáo của nguyên đơn có liên quan đến giá trị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại tổng giá trị các bên được chia. Theo kết quả định giá ở cấp sơ thẩm thì:
7
- + Quyền sử dụng đất thuộc thửa 964, tờ bản đồ số 110 (D1): có tổng giá trị là 5.800.000.000 đồng.
- + 01 chiếc xe ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27 có giá là 560.000.000 đồng.
- + Nhà, đất thuộc thửa 677, tờ bản đồ số 3 (B2) (trong đó có 90m² đất ODT và 28,8m² đất CLN), có giá: đất: có tổng giá trị là 2.592.000.000 đồng và 01 căn nhà ở có kết cấu hai tầng, khung sàn bê tông cốt thép, mái ngói có trần, tường xây gạch, nền gạch men có đơn giá 6.739.000 đồng/m², tỷ lệ còn lại là 70%, thành tiền căn nhà: 830.244.800 đồng.
Bà Thu nhận hiện vật là nhà, đất thuộc thửa 677, tờ bản đồ số 3 (B2) nên bà T có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông V 50% giá trị căn nhà với số tiền 415.122.400 đồng và 30% giá trị đất tương ứng với số tiền 777.600.000 đồng, tổng cộng: 1.192.722.400 đồng.
Ông Phạm Trần V nhận hiện vật là quyền sử dụng thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) và 01 chiếc ô tô biển số kiểm soát 61A-817.27 và có nghĩa vụ thanh toán lại ½ giá trị tài sản chung cho bà T với số tiền 3.180.000.000 đồng gồm 50% giá trị thửa 964, tờ bản đồ số 110 là 2.900.000.000 đồng + 50% giá trị chiếc xe ô tô 280.000.000 đồng.
Đối trừ nghĩa vụ giữa các bên, ông V nhận hiện vật có giá trị cao hơn nên có trách nhiệm hoàn lại giá trị chênh lệch cho bà T với số tiền: 3.180.000.000 đồng đồng – 1.192.722.400 đồng = 1.987.277.600 (một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm) đồng.
- [3] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; không có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An.
- [4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa sửa một phần bản án sơ thẩm là phù hợp.
- [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [6] Án phí phúc thẩm: Bà T không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 43, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ các Điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
8
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ T; không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;
- Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 106/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ T với bị đơn ông Phạm Trần V về việc "tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn" như sau:
- Bà Bùi Thị Mỹ T được quyền quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất 118,8m² (trong đó có 90m² đất ODT và 28,8m² đất CLN; có 14,4m² đất CLN thuộc HLBVĐB) cùng tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 677, tờ bản đồ số 3 (B2) toạ lạc tại khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Phạm Trần V được quyền quản lý, sử dụng đối với phần diện tích đất 300m² (trong đó có 80m² đất ODT và 21,6m² đất CLN thuộc HLBVĐB) thuộc thửa đất số 964, tờ bản đồ số 110 (D1) tọa lạc tại khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Phạm Trần V được quyền quản lý, sử dụng 01 chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai, số loại Kona, dung tích xy lanh 1999, biển số 61A-817.27, số máy: G4NHLW677265, số khung: RLUK181ABLN013509.
Bà Bùi Thị Mỹ T và ông Phạm Trần V có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Ông Phạm Trần V có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký đối với chiếc xe ôtô biển số kiểm soát 61A-817.27 theo quy định của pháp luật.
- Buộc ông Phạm Trần V có trách nhiệm thanh toán cho Bùi Thị Mỹ T số tiền 1.987.277.600 (một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành án, thì hàng tháng còn chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
9
- Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: bà Bùi Thị Mỹ T không phải chịu, hoàn trả cho bà Bùi Thị Mỹ T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002836 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Mai |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Mỹ T - Phạm Trần V Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn
