|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/DS-ST
Ngày: 11-6-2024
V/v Tranh chấp thừa kế.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Liêm
Ông Nguyễn Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều - Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 154/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp thừa kế” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lưu Minh C, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Số D Đ, khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Bị đơn: Ông Lưu Bá T, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số A ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lưu Ngọc Đ, sinh năm 1964;
- Ông Lưu Công K, sinh năm 1965;
- Bà Lưu Thị Mỹ H, sinh năm 1966;
- Ông Trần Minh M, sinh năm 1969;
- Anh Trần Lưu Đức N, sinh năm 1995;
- Anh Trần Lưu V, sinh năm 1999;
- Trần Lưu Thanh V1, sinh năm 2009 - Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Minh M, sinh năm 1969 (cha);
Địa chỉ: Số A ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số G Đ, khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số A ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Cùng địa chỉ: D khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
- Ông Lưu Minh T1, sinh năm 1975;
- Bà Lưu Thị Bích L, sinh năm 1976;
- Bà Lưu Thị Thu S, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số A ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số G Đ, khóm B, phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số E N, khóm B, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
(Các đương sự ông C, ông T, ông Đ, ông T1, ông M, bà H, bà S có mặt tại phiên tòa; các đương sự bà L, ông K, anh N, anh V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Lưu Minh C trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích 508,4m² (ONT + SKC) là của cha mẹ Lưu Thái B (chết năm 2019) và Trần Thị D (chết 2018) để lại. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) do cha Lưu Thái B đứng tên, theo giấy số AN 047920, do UBND thị xã S cấp ngày 23/7/2008, phần đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Cha mẹ ông C có tổng cộng 9 người con gồm: 1/ Ông Lưu Ngọc Đ, sinh năm 1964; 2/ Ông Lưu Công K, sinh năm 1965; 3/ Bà Lưu Thị Mỹ H, sinh năm 1966; 4/ Ông Lưu Minh C, sinh năm 1967; 5/ Bà Lưu Thị Minh N1, sinh năm 1971 (chết năm 2021, có chồng là Trần Minh M và 3 con là Trần Lưu Đức N, Trần Lưu V và Trần Lưu Thanh V1); 6/ Ông Lưu Bá T, sinh năm 1973; 7/ Ông Lưu Minh T1, sinh năm 1975; 8/ Bà Lưu Thị Bích L, sinh năm 1976; 9/ Bà Lưu Thị Thu S, sinh năm 1979. Ngoài ra, cha mẹ không có con nuôi hay con riêng. Cha mẹ ông C mất không có để lại di chúc.
Khi còn sống cha mẹ đã có chia đất cho tất cả các anh chị em ai cũng có phần để cất nhà ở (Riêng B cha mẹ chưa chia do bệnh tật). Sau khi chia đất cho các con thì cha mẹ còn lại phần đất hương hỏa là thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích 508,4m², trên đất có căn nhà của cha mẹ làm cơ sở sản xuất hủ tiếu khi còn sống (hiện nhà xuống cấp đang để trống). Sau khi cha mẹ chết thì ông Lưu Bá T tiếp tục sử dụng phần đất trên để làm nơi sản xuất hủ tiếu và làm dàn phơi hủ tiếu cho cơ sở hủ tiếu của ông T cho tới nay. Qua đo đạc thực tế phần đất thửa 88 có diện tích 479,2m² (giảm 29,2m² so cấp giấy) thì ông C đồng ý.
Nay ông Lưu Minh C yêu cầu ông Lưu Bá T di dời tài sản của ông T trên đất để chia thừa kế theo pháp luật di sản của cha mẹ là thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích đo đạc thực tế 479,2m² thành 09 suất thừa kế bằng nhau cho ông C được nhận 01 suất bằng hiện vật diện tích 53,24m², vị trí do Tòa án xem xét phân chia theo sơ đồ đo đạc ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S. Ông C không đồng ý nhập chung với các thừa kế khác. Đối với căn nhà của cha mẹ đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng nên ông C không có yêu cầu.
Nguyên đơn thống nhất kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, định giá. Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
2
Bị đơn ông Lưu Bá T trình bày:
Ông Triệu thống n về hàng thừa kế của cha mẹ, cũng như di sản thừa kế là thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích 508,4m² loại đất ONT + SKC (đo đạc thực tế phần đất có diện tích 479,2m²) là của cha mẹ Lưu Thái B (chết năm 2019) và Trần Thị D (chết 2018) để lại. Giấy chứng nhận QSDĐ do UBND thị xã S cấp ngày 23/7/2008 cho cha Lưu Thái B đứng tên QSDĐ, (theo giấy số AN 047920), trên đất có căn nhà cấp 4 đã xuống cấp. Nhà đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S. Hiện bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ do ông T đang giữ. Trên phần đất thửa 88 có một phần nhà sau của ông T diện tích 19,5m². Ngoài ra, ông T còn sử dụng phần đất trống (sân) để làm giàn phơi hủ tiếu; còn phần máy móc của cơ sở làm hủ tiếu ông T đặt nhờ trên đất của ông Lưu Công K (không liên quan phần đất tranh chấp). Cơ sở hủ tiếu của ông T là duy trì, tiếp nối nghề truyền thống của gia đình cha mẹ ông T trước đây, đến ông T là đời thứ ba làm hủ tiếu. Trường hợp phải di dời thì ông T không có đất để di dời nên ông T có nguyện vọng tiếp tục sử dụng đất thửa 88 để làm cơ sở hủ tiếu.
Ông T đồng ý chia thừa kế thửa 88, nhưng theo ông T không đồng ý chia bằng hiện vật (đất) theo yêu cầu của ông C mà đồng ý chia thừa kế phần đất thửa 88 bằng cách bán lấy tiền để chia đều bằng tiền. Tuy nhiên, bán cho ai, giá bao nhiêu tiền thì ông T không biết. Ông T cũng đồng ý nhận toàn bộ thửa 88 để tiếp tục sử dụng và sẽ hoàn trả tiền lại cho các anh chị em theo giá hội đồng định giá.
Trường hợp chia đất cho từng người thì đối với các tài sản trên đất là phần nhà sau của ông T (diện tích 19,5m²) cất trên thửa 88 ông T đề nghị giữ nguyên và sẽ thối tiền lại; còn các tài sản khác như giàn phơi hủ tiếu ông T sẽ tự tháo dở, không yêu cầu gì. Đối với căn nhà của cha mẹ đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng nên ông T không có yêu cầu.
Ông T thống nhất kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, định giá. Ngoài ra, ông T không còn yêu cầu nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Công K trình bày:
Ông K thống nhất trình bày của ông T về hàng thừa kế, di sản chia thừa kế và đồng ý bán thửa 88 để chia bằng tiền. Tuy nhiên, bán cho ai, bao nhiêu thì ông K không biết. Ông K cũng không đồng ý nhận toàn bộ thửa 88 và hoàn trả tiền lại cho các anh chị em. Đối với căn nhà của cha mẹ đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng nên ông K không có yêu cầu.
Ông K thống nhất kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, định giá. Ngoài ra, ông K không còn yêu cầu nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Ngọc Đ, bà Lưu Thị Mỹ H, ông Lưu Minh T1, bà Lưu Thị Bích L và bà Lưu Thị Thu S trình bày:
Các đương sự thống nhất trình bày của ông C về hàng thừa kế, di sản chia thừa kế và yêu cầu chia cho các đương sự mỗi người một suất thừa kế bằng hiện vật diện tích 53,24m², vị trí đất do Tòa án xem xét phân chia các đương sự đồng ý. Đối với căn nhà của cha mẹ đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng nên các đương sự không có yêu cầu.
3
Các đương sự thống nhất kết quả đo đạc, xem xét thẩm định, định giá. Ngoài ra, không còn yêu cầu nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh M trình bày:
Ông M là chồng bà bà Lưu Thị Minh N1, sinh năm 1971 (chết năm 2021), vợ chồng ông có 3 con chung là Trần Lưu Đức N, Trần Lưu V và Trần Lưu Thanh V1 (sinh năm 2009 còn nhỏ do ông đại diện hợp pháp). Ngoài ra, không có con nuôi hay con riêng. Ông M thống nhất trình bày của ông C về hàng thừa kế, di sản chia thừa kế và yêu cầu chia cho ông M và 3 con (nhận phần của vợ ông) một suất thừa kế bằng hiện vật diện tích 53,24m², vị trí do Tòa án xem xét. Ông M không đồng ý nhập chung với các thừa kế khác. Ngoài ra, ông M không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Lưu Đức N và Trần Lưu V trình bày:
Thống nhất với ý kiến của cha (ông Trần Minh M), ngoài ra, không có ý kiến gì thêm.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
- Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Minh C; chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Lưu Ngọc Đ, ông Lưu Công K, bà Lưu Thị Mỹ H, ông Lưu Minh T1, bà Lưu Thị Bích L, bà Lưu Thị Thu S, ông Trần Minh M.
+ Ông Lưu Bá T được tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích đo đạc thực tế 479,2m² theo sơ đồ đo đạc ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S.
+ Buộc ông T trả tiền giá trị đất cho các đồng thừa kế mỗi người một suất thừa kế tương ứng với diện tích 53,24m² qui ra bằng tiền theo giá Hội đồng định giá đã định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn chia thừa kế QSDĐ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp thừa kế”.
Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Địa chỉ cư trú của bị đơn và tài sản tranh chấp là QSDĐ tại thành phố S nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Lưu Thị Bích L, ông Lưu Công K, anh Trần Lưu Đức N, anh Trần Lưu V có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, các đương sự có mặt tại phiên tòa đồng ý và đề nghị HĐXX tiến hành phiên tòa. Do đó, HĐXX căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về thời hiệu yêu cầu chia thừa kế: Qua chứng cứ thể hiện cụ Lưu Thái B, chết 2019 và cụ Trần Thị D, chết 2018. Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm. Do đó, nguyên đơn khởi kiện chia thừa kế còn trong thời hiệu chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về hàng thừa kế: Cụ Lưu Thái B và cụ Trần Thị D chung sống có 9 người con: 1/ Ông Lưu Ngọc Đ, sinh năm 1964; 2/ Ông Lưu Công K, sinh năm 1965; 3/ Bà Lưu Thị Mỹ H, sinh năm 1966; 4/ Ông Lưu Minh C, sinh năm 1967; 5/ Bà Lưu Thị Minh N1, sinh năm 1971 (chết năm 2021, có chồng là ông Trần Minh M và 3 con gồm: Trần Lưu Đức N, Trần Lưu V và Trần Lưu Thanh V1); 6/ Ông Lưu Bá T, sinh năm 1973; 7/ Ông Lưu Minh T1, sinh năm 1975; 8/ Bà Lưu Thị Bích L, sinh năm 1976; 9/ Bà Lưu Thị Thu S, sinh năm 1979. Ngoài ra, không có con nuôi hay con riêng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết và tại phiên tòa tất cả các đương sự đều thừa nhận các tình tiết về quan hệ thừa kế như trên, cũng như việc cụ Lưu Thái B, cụ Trần Thị D chết không để lại di chúc. Do vậy, đây là tình tiết không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, làm căn cứ giải quyết vụ án.
[2.3] Về di sản chia thừa kế:
Các đương sự đều thừa nhận rằng thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích 508,4m² (ONT + SKC), trên đất có căn nhà cấp 4 (đã xuống cấp đang để trống) là di sản của cha mẹ Lưu Thái B và Trần Thị D để lại. Hiện giấy chứng nhận QSDĐ do cha Lưu Thái B đứng tên QSDĐ theo giấy số AN 047920, do UBND thị xã S cấp ngày 23/7/2008, phần đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S. Qua đo đạc thực tế phần đất thửa 88 có diện tích 479,2m² (giảm 29,2m² so cấp giấy) thì các đương sự đều đồng ý. Hiện toàn bộ diện tích đất thửa 88 do ông Lưu Bá T quản lý, sử dụng để làm cơ sở sản xuất hủ tiếu của ông T. Do vậy, đây là tình tiết các đương sự cùng thừa nhận nên không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, cụ Lưu Thái B và cụ Trần Thị D không còn di sản nào khác.
[3] Qua đó, Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cùng yêu cầu bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy rằng: Do cụ Lưu Thái B và cụ Trần Thị D chết không để lại di chúc, do đó di sản của hai cụ được chia thừa kế theo pháp luật, theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự.
[3.1] Nguyên đơn ông Lưu Minh C cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Ngọc Đ, bà Lưu Thị Mỹ H, ông Lưu Minh T1, bà Lưu Thị Bích L, bà Lưu Thị Thu S, ông Trần Minh M đều có yêu cầu được chia 1 suất thừa kế bằng hiện vật (nhận chia bằng đất) để sử dụng, vị trí đất các đương sự không yêu cầu mà đồng ý để Tòa án xem xét phân chia. Tại phiên tòa ông M, bà S cũng có ý kiến
5
đồng ý giao phần thừa kế cho ông T nhận toàn bộ thửa 88 và ông T hoàn trả tiền lại cho các đương sự.
[3.2] Đối với ông Lưu Bá T đồng ý nhận hết thửa đất 88 và hoàn trả bằng giá trị suất thừa kế cho những hàng thừa kế khác. Nếu không giao hết đất cho ông thì ông T và ông K không đồng ý chia bằng hiện vật (đất) vì diện tích đất nhỏ không thể phân chia cho 9 người, mà đồng ý bán để lấy tiền, sau đó chia đều cho các anh chị em. Tuy nhiên, bán cho ai, bán giá bao nhiêu thì ông T, ông K không biết.
[3.3] Hội đồng xét xử thấy rằng, qua đo đạc thực tế thửa 88 có diện tích 479,2m² trường hợp phân chia thành 9 suất thừa kế bằng nhau thì mỗi suất có diện tích 53,24m² (ONT + SKC) không đủ diện tích tách thửa cho từng thừa kế (Theo quyết định số 22/2021/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2021 của UBND tỉnh Đ thì diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở tại nông thôn đối với thửa đất không có nhà ở từ 80m² trở lên; đối với đất phi nông nghiệp không phải đất ở từ 200m² trở lên). Do đó, các đương sự yêu cầu chia bằng hiện vật (đất) là không có cơ sở chấp nhận. Mặt khác, trường hợp chia thành 9 suất thừa kế bằng hiện vật sẽ không có lối đi ra đường công cộng cho những người nhận phần đất chia phía sau. Còn việc bán để phân chia như ý kiến ông T, ông K cũng không có cơ sở thực hiện được. Trước đây khi Ủy ban nhân dân xã H1 các đương sự cũng đã có ý kiến này, nhưng sau đó các đương sự không thống nhất, không thực hiện được nên phát sinh tranh chấp.
[3.4] Do đó, để khai thác hiệu quả giá trị phần đất (trong thửa đất có loại đất sản xuất), để ông T tiếp tục duy trì, tiếp nối nghề truyền thống làm hủ tiếu của gia đình, cũng như phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng đất của ông T hiện nay. Xét ý kiến của ông T trường hợp phải di dời thì ông T không có đất để di dời cơ sở hủ tiếu và ông T đồng ý nhận toàn bộ phần đất và sẽ hoàn trả các suất thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế theo giá hội đồng định giá. Hội đồng xét xử thấy rằng ý kiến của ông T là phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho các bên, nên chấp nhận ý kiến của ông Lưu Bá T, giao toàn bộ thửa đất 88 cho ông T được quyền quản lý, sử dụng. Buộc ông T có trách nhiệm hoàn trả cho từng người thừa kế một suất thừa kế bằng tiền theo giá của hội đồng định giá là phù hợp.
Theo đó, mỗi suất thừa kế quyền sử dụng đất được qui ra trị giá bằng tiền là:
- - 35,4m² (ODT) x 6.000.000₫ = 212.400.000đ;
- - 443,8 (SKC) x 4.000.000₫ = 1.775.200.000đ;
- Tổng cộng: 1.987.600.000đ : 9 = 220.844.000đ (lấy số tròn).
Riêng suất thừa kế của bà Lưu Thị Minh N1, do bà N1 chết năm 2021, do đó suất thừa kế của bà N1 sẽ do chồng và các con bà N1 (gồm: ông M, N, V, V1) nhận thừa hưởng chung.
Như vậy, ông Lưu Bá T có trách nhiệm hoàn trả cho mỗi người thừa kế gồm: ông Lưu Minh C, ông Lưu Công K, ông Lưu Ngọc Đ, bà Lưu Thị Mỹ H, ông Lưu Minh T1, bà Lưu Thị Bích L, bà Lưu Thị Thu S mỗi người được nhận số tiền 220.844.000đ; ông Trần Minh M cùng các con (Trần Lưu Đức N, Trần Lưu V và Trần Lưu Thanh V1) được nhận chung 220.844.000đ.
6
[3.5] Đối với căn nhà cấp 4 trên đất trước đây cụ B, cụ D dùng làm nhà kho sản xuất hủ tiếu hiện đã xuống cấp, không còn giá trị sử dụng nên tất cả các đương sự không có yêu cầu chia nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Tại phiên tòa, các bên đương sự khẳng định không ai cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập, kết quả tranh tụng tại phiên tòa giải quyết tranh chấp.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[6] Qua đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử thống nhất.
[7] Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về chia thừa kế theo quy định của pháp luật; Đối với bà Lưu Thị Bích L là người khuyết tật và ông Lưu Ngọc Đ là người 60 tuổi có đơn xin miễn án phí, do đó miễn án phí cho bà L, ông Đ theo quy định của pháp luật.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá nguyên đơn, bị đơn mỗi bên chịu ½ là 2.053.200đ (lấy số tròn). Do số tiền phần bên ông T phải chịu ông C đã nộp tạm ứng và chi xong nên buộc ông T trả lại cho ông C 2.053.200đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Chia cho ông Lưu Bá T được nhận thừa kế trọn thửa đất 88, tờ bản đồ 17, diện tích cấp 508,4m² (ONT + SKC), đo đạc thực tế 479,2m² thuộc phạm vi các mốc 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8 – 9 – 10 – 11 – 12 – 1 theo sơ đồ đo đạc ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ, hiện do cụ Lưu Thái B đứng tên theo giấy chứng nhận QSDĐ số AN 047920, do UBND thị xã S (Nay là thành phố S) cấp ngày 23/7/2008.
- Buộc ông Lưu Bá T hoàn trả cho ông Lưu Minh C; ông Lưu Công K; ông Lưu Ngọc Đ; bà Lưu Thị Mỹ H; ông Lưu Minh T1; bà Lưu Thị Bích L; bà Lưu Thị Thu S; ông Trần Minh M (cùng các con N, V, V1) mỗi người số tiền của một suất thừa kế là 220.844.000₫ (Hai trăm hai mươi triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn
(Có biên bản xem xét thẩm định ngày 25/01/2024 và sơ đồ đo đạc ngày 03/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).
7
đồng). Tổng cộng 8 suất thừa kế số tiền là 1.766.752.000đ (Một tỷ bảy trăm sáu mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn đồng).
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lưu Minh C nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông C đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0003229 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ, ông C còn phải nộp tiếp số tiền 10.742.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lưu Bá T nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lưu Công K nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông K đã nộp 300.000₫ theo biên lai số 0004064 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ, ông K còn phải nộp tiếp số tiền 10.742.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lưu Thị Mỹ H nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000₫ theo biên lai số 0004060 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ, bà H còn phải nộp tiếp số tiền 10.742.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lưu Minh T1 nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T1 đã nộp 300.000₫ theo biên lai số 0004058 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ, ông T1 còn phải nộp tiếp số tiền 10.742.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lưu Thị Thu S nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà S đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0004057 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ, bà S còn phải nộp tiếp số tiền 10.742.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Minh M cùng các con (N, V, V1 – do ông M đại diện hợp pháp) liên đới nộp 11.042.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông M đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0004059 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Sau khi khấu trừ, ông M cùng các con (N, V, V1 – do ông M đại diện hợp pháp) còn phải nộp tiếp số tiền 10.742.200đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Miễn toàn bộ án phí cho ông Lưu Ngọc Đ, là người 60 tuổi theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho ông Đ nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ theo biên lai số 0004041 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- Miễn toàn bộ án phí cho bà Lưu Thị Bích L là người khuyết tật theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho bà L nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0004039 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
* Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá tổng cộng 4.106.590đ do nguyên đơn, bị đơn mỗi bên chịu ½ là 2.053.200₫ (lấy số tròn), số tiền này ông C đã nộp tạm ứng và chi xong nên buộc ông T trả lại cho ông C 2.053.200đ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
8
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Minh Trí |
9
Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 43/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế qsd đất của cha me
