Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/DS-ST

Ngày 07 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Liên.
  2. Bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 85/2024/TLST-DS ngày 28/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-DS ngày 26/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/QĐ-HPT, ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J.

Địa chỉ trụ sở: Lầu 15 Tòa nhà Centec, 72 – 74 N, phường V, Quận X, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI N – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Việt N – Phó Bộ phận quản lý công nợ (văn bản ủy quyền số 17/2023/UQ-JIVF ngày 19/9/2023 của Tổng giám đốc JIVF).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thành T1 – Nhân viên Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J (theo giấy ủy quyền số 377/2024/UQ-JIVF-LM ngày 19/3/2024).

Địa chỉ: Lầu 15 Tòa nhà Centec, 72 – 74 N, phường V, quận X, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

1

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: Khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J (sau đây gọi tắt là Công ty J) là tổ chức tín dụng phi ngân hàng được Ngân hàng nhà nước cấp phép hoạt động tại Giấy phép số 80/GP-NHNN ngày 25/7/2018.

Ngày 03/01/2023, Công ty J với ông Nguyễn Hữu T có ký kết Hợp đồng tín dụng số: 919750003692530000, ông T vay tiền nhằm mục đích mua xe máy. Số tiền vay 24.000.000 đồng, thời hạn cho vay 15 tháng; lãi suất thỏa thuận theo tháng (dư nợ giảm dần) 4,35%, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, kỳ hạn trả nợ: theo tháng, số tiền thanh toán mỗi tháng (gồm tiền gốc + lãi + phí) là 2.223.746 đồng. Ngày đến hạn trả nợ kỳ đầu tiên ngày 31/01/2023, ngày đến hạn trả nợ kỳ cuối (dự kiến) 01/4/2024 là 1.903.133 đồng.

Từ ngày 11/02/2023 đến ngày 22/3/2024, ông T thanh toán được cho Công ty J số tiền là 22.265.217 đồng, trong đó nợ gốc 14.451.486 đồng, lãi 7.665.974 đồng, lãi quá hạn 39.757 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000 đồng. Từ sau ngày 22/03/2024 đến nay, ông T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty J mặc dù được nhắc nhở nhiều lần.

Việc bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ đã vi phạm Điều 3, Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000 ngày 03/01/2023, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty J.

Căn cứ Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 11 của Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000 ngày 03/01/2023. Do ông T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết theo hợp đồng tín dụng, nên nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông Nguyễn Hữu T phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 07/8/2024 là 17.260.969 đồng (trong đó: nợ gốc: 9.548.514 đồng; lãi 4.193.796 đồng; lãi quá hạn: 3.446.659 đồng; phí quản lý khoản vay 72.000 đồng).

Nay đại diện theo ủy quyền lại của Công ty J, ông Nguyễn Thành T1 đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Hữu T phải thanh toán cho Công ty J số tiền vay tính đến hết ngày 07/8/2024 là 17.260.969 đồng. Buộc ông T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 08/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000 ngày 03/01/2023.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu T: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

2

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng.

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty J khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hữu T phải trả số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000 ngày 03/01/2023. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại phường Đ, thành phố P. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông T nhưng ông T không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty J đối với ông Nguyễn Hữu T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000 ngày 03/01/2023, Giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn, bản các điều kiện giao dịch chung sản phẩm cho vay của Công ty J, giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA, Ủy nhiệm chi số 1031123A04552208 ngày 04/01/2023 của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở

3

để xác định: Ngày 03/01/2023, giữa Công ty J và ông Nguyễn Hữu T có ký kết Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000, số tiền vay là 24.000.000 đồng, Công ty J đã giải ngân và ông T đã nhận đủ số tiền trên.

[2.2] Xét hợp đồng tín dụng thấy rằng: Chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận và được ký kết hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Do đó, Hợp đồng tín dụng số 919750003692530000 ký ngày 03/01/2023 đã ký kết giữa Công ty J và ông T là hợp pháp, có liệu lực.

[2.3] Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Công ty J, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 8 của Hợp đồng, vi phạm Hợp đồng mà các bên đã ký kết. Do ông T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty J nên từ sau ngày 31/10/2023, Công ty J chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn như đã thỏa thuận và áp dụng các loại phí liên quan đến hợp đồng tín dụng là phù hợp với Điều 1, Điều 3, Điều 4 của Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 9 Thông tư số 39/VBHN-NHNN ngày 29/11/2019 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cho vay tiêu dùng của Công ty tài chính nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tính đến ngày 07/8/2024, ông Nguyễn Hữu T còn nợ Công ty J số tiền 17.260.969 đồng (trong đó: nợ gốc: 9.548.514 đồng; lãi 4.193.796 đồng; lãi quá hạn: 3.446.659 đồng; phí quản lý khoản vay 72.000 đồng). Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên cần được chấp nhận, ông T phải có nghĩa vụ trả cho Công ty J các khoản tiền trên.

[2.4] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty J xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông T đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.

4

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J.
  2. Buộc ông Nguyễn Hữu T có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J số tiền tính đến ngày 07/8/2024 là 17.260.969 đồng (mười bảy triệu hai trăm sáu mươi nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc là 9.548.514 đồng, số tiền lãi là 4.193.796 đồng, số tiền lãi quá hạn là 3.446.659 đồng, phí quản lý khoản vay 72.000 đồng.
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (08/8/2024) ông Nguyễn Hữu T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J.

  4. Về án phí: Ông Nguyễn Hữu T phải chịu 863.048 đồng (tám trăm sáu mươi ba nghìn không trăm bốn mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Hoàn lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế Việt Nam J số tiền 335.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001879 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành

5

án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/8/2024). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang - Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. PR-TC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diệu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger