Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN


Bản án số: 43/2021/HS-ST
Ngày: 13-4-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà: Bùi Thị Việt Hà
  2. Ông: Vương Đình Hoàng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Hoàng Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Mường Ảng mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2021/TLST-HS, ngày 19 tháng 3 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST-HS, ngày 31/3/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1975, nơi sinh: huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản XL, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 5/12; Bố đẻ: Lò Văn P, sinh năm 1929 và mẹ đẻ Lò Thị P, sinh năm 1934; Bị cáo có 06 chị em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Bị cáo có vợ là Lò Thị B và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án; chưa bị xử lý hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 16/12/2020 Lò Văn L từ nhà đi đến bản Hua Ná, xã ML, huyện MA tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản Hua Ná thì Lún gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, địa chỉ ở dọc đường. Qua trao đổi L đã hỏi mua được của người này 03 viên Methamphetamine và 01 gói nhỏ Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 150.000đ. Mua được ma túy L trở về nhà. Hồi 09 giờ 30 phút ngày 18/12/2020, L mang gói Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít tại nhà bếp của gia đình. Khi Lún vừa hít xong Heroine thì bị tổ công tác Công an xã ML làm nhiệm vụ phát hiện. Tổ công tác đã yêu cầu L tự giác mang ma túy ra giao nộp thì L đã tự lấy ở túi áo khoác bên trai đang mặc ra 03 viên Methamphetamine được gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,31 gam giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ số ma túy của Lún.

Theo biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 18/12/2020 của Công an huyện Mường Ảng và Kết luận giám định số 54/GĐ-PC09, ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

  • Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn L gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
  • Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn L là: 0,31 gam
  • Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 33, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS-MA ngày 17/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mường Ảng để xét xử bị cáo Lò Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lún. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Lò Văn L từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy: 0,21 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định; 01 bật lửa màu xanh có chữ “THỐNG NHẤT”; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy.

Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo Lún thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhất trí nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của VKSND huyện Mường Ảng, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng trước khi nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nội dung vụ án: Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Lò Văn L đã khai và công nhận: Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 18/12/2020, tại nhà ở của gia đình thuộc Bản XL, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên bị cáo bị bắt vì đang tàng trữ trái phép 0,31 gam Methamphetamine, mục đích của bị cáo tàng trữ Methamphetamine để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo trước phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, cũng như cáo trạng số 22/CT-VKS-MA, ngày 17/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MA đã truy tố.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bị cáo tàng trữ trái phép 0,31 gam Methamphetamine đủ định lượng buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ pháp lý để xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[2] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù, được quy định tại khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

[3] Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra: Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho các loại tội phạm gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được bố mẹ sinh ra và lớn lên tại huyện MA, tỉnh Điện Biên, bị cáo học hết lớp 5 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Năm 1994 kết hôn với chị Lò Thị B và có 03 người con chung. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo vẫn cố ý mua và tàng trữ trái phép 0,31 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi làm việc với tổ công tác Công an xã ML bị cáo đã tự nguyện giao nộp ma túy cho tổ công tác, bố bị cáo là ông Lò Văn P được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 cho bị cáo. Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.

Bị cáo với nghề nghiệp làm ruộng, ngoài ra không có thu nhập nào khác, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông, người mà Lò Văn L khai đã bán Ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ ở đâu, Cơ quan CSĐT không có đủ cơ sở xác minh làm rõ.

[6] Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy: 0,21 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định; 01 bật lửa màu xanh có chữ “THỐNG NHẤT”; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy.

[7] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.

[8] Quyết định truy tố của VKSND huyện Mường Ảng; ý kiến của vị đại diện VKS, ý kiến của bị cáo qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy phù hợp với nội dung vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[9] Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 18/12/2020)

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu để tiêu hủy: 0,21 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau khi lấy mẫu giám định; 01 bật lửa màu xanh có chữ “THỐNG NHẤT”; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng lập ngày 18/3/2021).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Điện Biên
- VKSND tỉnh Điện Biên
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên.
- VKSND h.Mường Ảng
- Công an h.Mường Ảng
- Chi cục THADS h.Mường Ảng
- Bị cáo
- Lưu hồ sơ.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa



(Đã ký)

Nguyễn Văn Phương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger