Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 43/2021/HS-ST

Ngày 11-5-2021.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lộc và bà Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Phan Phúc Huy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 5 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38A/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021, đối với các bị cáo:

Phạm Văn T sinh năm 1958 tại tỉnh Lâm Đồng. Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Không; Cha là Phạm Văn K (đã chết), mẹ là Đỗ Thị N (đã chết); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 7 anh em; Vợ là Lưu Thị Ánh M; có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1996.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", có mặt tại phiên tòa.

  • - Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968, vắng mặt.
  • Địa chỉ: ấp Lò Vôi, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
  • - Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hữu Đức, sinh năm 1980, vắng mặt.
  • Địa chỉ: ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T không có nghề nghiệp và để có tiền tiêu xài, T đã nhận tàng trữ hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu trong nhà của mình để được trả tiền công từ 100.000đ đến 200.000đ. Do trước đây T có quen biết một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và người đàn ông trên đặt vấn đề với T là sẽ có những lô hàng thuốc lá điếu nhập lậu vận chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh về huyện Long Điền, muốn cất giấu tại nhà T để chờ chuyển giao cho người khác và sẽ trả tiền cho T, T đồng ý. Khi nào hàng chuyển xuống sẽ có người thông báo cho T biết địa điểm để T đi đến vận chuyển về nhà của mình cất giấu. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 10/2020, T đã nhận hàng từ người đàn ông trên đem về nhà T cất giấu được 04 lần.

Vào khoảng 09 giờ ngày 24/10/2020, có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà T thông báo vào khoảng 15 giờ ngày 24/10/2020 sẽ có lô hàng thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO) đựng trong 04 bao tải được vận chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh về và để ở khu vực Nhà thờ Hải Lâm thuộc xã Phước Hưng, huyện Long Điền. Lúc này, T đi đến khu vực Nhà thờ Hải Lâm và nhìn thấy lô hàng trên nên T thuê ông Nguyễn Văn Toản (làm nghề chạy xe ôm) chở 04 bao tải đựng số thuốc lá điếu nhập lậu trên về nhà T và trả tiền xe ôm cho ông Toản là 150.000đ (ông Toản không biết bên trong 04 bao tải đựng gì vì T không nói cho ông Toản biết). Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, ông Toản chở 04 bao tải trên đến cổng sau nhà của T. Khi T đang vận chuyển 04 bao tải trên vào nhà để cất giấu thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền, Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên và mục đích tàng trữ số thuốc lá điếu nhập lậu trên để chờ người khác đến lấy và được trả tiền công.

Tại Biên bản xác định nguồn gốc thuốc lá điếu ngày 24/10/2020 của Công an huyện Long Điền phối hợp với Đội quản lý thị trường số 5, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định: 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO, tổng cộng 2.150 bao, tất cả đều là loại thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và cấm nhập khẩu. Sau khi kiểm tra xác định tất cả số lượng thuốc lá điếu trên là hàng nhập lậu.

Vật chứng thu giữ:

  • - 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO (mỗi cây là 10 bao), tổng cộng 2.150 bao. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý.
  • - 01 xe mô tô biển số 72K9-9541, đã trao trả lại cho ông Nguyễn Văn Toản là chủ sở hữu.

1. Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSLĐ ngày 22/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố Phạm Văn T tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền giữ nguyên quan điểm truy tố đối với T đúng theo nội dung bản cáo trạng số 28/CT-VKSLĐ ngày 22/02/2021. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của T gây ra, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;
  • - Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 191; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Phạm Văn T từ 1 năm đến 1 năm, 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 năm đến 3 năm.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO (mỗi cây là 10 bao), tổng cộng 2.150 bao.

2. Phần tranh luận: T đồng ý với tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng mà Đại diện Viện kiểm sát truy tố và luận tội. T không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

3. Lời nói sau cùng của T: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, Phạm Văn T khai nhận về hành vi phạm tội do bị cáo gây ra đúng như nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 24/10/2020, Phạm Văn T bị phát hiện quả tang có hành vi tàng trữ trái phép 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO, mỗi cây là 10 bao, tổng cộng là 2.150 bao thuốc lá điếu nhập lậu, tất cả đều do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và cấm nhập khẩu tại nhà của T thuộc ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền. Mục đích T tàng trữ số thuốc lá điếu trên là để chờ người khác đến lấy và được trả tiền công.

Xét lời khai nhận tội của T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của T tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hành vi của T là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là Chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. T là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ hàng cấm” của mình. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của T đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền truy tố đối với T là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, T thành khẩn khai báo; T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; T là bộ đội tại chiến trường Campuchia, đã phục viên và là người cao tuổi. Do đó, T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của T và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Cần xử phạt T hình phạt tù tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, T có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly T ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù T nhưng cho hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương quản lý, giám sát trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục T trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO, mỗi cây là 10 bao, tổng cộng là 2.150 bao do Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

- Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 191; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án (ngày 11/5/2021).

Giao Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu Phạm Văn T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; Nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự”.

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự:

Phạt Phạm Văn T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 175 cây thuốc lá điếu hiệu JET và 40 cây thuốc lá điếu hiệu HERO, mỗi cây là 10 bao, tổng cộng là 2.150 bao.

(Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền theo Biên bản giao nhận vật chứng số 58/BB-CCTHADS ngày 02/02/2021).

- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc Phạm Văn T nộp 200.000đồng.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/5/2021).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh BRVT;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BRVT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BRVT;
  • - Công an tỉnh BRVT (PC 06, PC 10);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Long Điền;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Long Điền;
  • - UBND xã Phước Hưng, huyện Long Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Đỗ Hữu Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2021/HS-ST ngày 11/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 43/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/05/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger