Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ


Bản án số: 43/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16-7-2021
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trọng Hùng

2. Ông Vũ Mạnh Cường

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Vinh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 137/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Tuyết M - sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: Khu 09, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; tạm trú tại: Xóm C, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Trần Tiến Q - sinh năm 1991; nơi cư trú tại: Khu 09, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/3/2021 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Đinh Thị Tuyết M trình bày: Chị M và anh Trần Tiến Q tự nguyện kết hôn với nhau ngày 02/01/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với mẹ đẻ anh Q tại khu 09, xã C và làm nông nghiệp. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên nói cãi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng không đạt kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ ngày 25/11/2018 đến nay, chị M về nhà bố mẹ đẻ của chị ở và vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được, nên chị M yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Q.

Tại bản tự khai ngày 24/3/2021 và trong quá trình giải quyết, bị đơn là anh Trần Tiến Q trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm phát sinh mâu thuẫn và thời gian vợ chồng sống ly thân đúng như chị Đinh Thị Tuyết M đã trình bày. Theo anh Q, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị M có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác dẫn tới vợ chồng cãi nhau, chị M bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2018 đến nay, không quan tâm tới nhau. Nay chị M đề nghị ly hôn, anh Q đồng ý, vì anh không còn tình cảm thương yêu với chị M.

Về con chung: Hai bên thống nhất trình bày vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Ngọc L - sinh ngày 26/6/2015. Hiện con chung ở cùng anh Q và bố mẹ đẻ anh Q tại khu 09, xã C, huyện C. Ly hôn, hai bên thống nhất để anh Q trực tiếp nuôi con chung và chị M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Hai bên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đinh Thị Tuyết M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và xác định:

  • Về tố tụng dân sự: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
  • Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Tuyết M và anh Trần Tiến Q.
  2. Về con chung: Giao cho anh Trần Tiến Q trực tiếp nuôi con chung là Trần Thị Ngọc L - sinh ngày 26/6/2015. Chị Đinh Thị Tuyết M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Do các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đinh Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng dân sự:

[1.1]. Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “tranh chấp hôn nhân và gia đình” và nơi cư trú bị đơn là tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về yêu cầu, ý kiến của đương sự:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị M và anh Q bảo đảm các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên, đó là hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của đương sự và chứng cứ thu thập được cho thấy, vợ chồng chị M, anh Q chung sống hòa thuận được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau về quan điểm sống, lối sống dẫn tới vợ chồng thường nói cãi nhau. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không đạt kết quả. Từ khoảng tháng 11/2018 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm tới nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M, anh Q thuận tình ly hôn là có căn cứ, cần chấp nhận để tránh sự giàng buộc không có lợi cho cả hai bên.

[3] Về con chung: Chứng cứ thu thập được và lời trình bày của các đương sự cho thấy chị M, anh Q hiện đều ở chung nhà với bố mẹ đẻ nhưng chị M làm nông nghiệp, thu nhập thấp, không ổn định, còn anh Q làm công nhân tại công ty may YIDA, thu nhập bình quân mỗi tháng 10.000.000 đồng. Đồng thời, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, con chung do anh Q và bố mẹ đẻ của anh chăm sóc, nuôi dưỡng, còn chị M chưa có lần nào về thăm nom con chung. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung, cần giao con chung cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng và chị M không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh Q không yêu cầu.

[4]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Hai bên không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 55; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Tuyết M và anh Trần Tiến Q.
  2. Về con chung:

    2.1. Giao con chung là Trần Thị Ngọc L - sinh ngày 26/6/2015 cho anh Trần Tiến Q trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi xét xử sơ thẩm cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Chị Đinh Thị Tuyết M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    2.2. Chị Đinh Thị Tuyết M có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Đinh Thị Tuyết M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003888 ngày 22/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm khê. Chị M đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho bị đơn hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:
- VKSND huyện; tỉnh PT;
- Các đương sự;
- UBND xã C;
- Thi hành án dân sự;
- Lưu HS+ VP;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà





Vũ Văn Thắng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2020/HNGĐ-ST ngày 16/07/2021 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 43/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp về HNGĐ giữa Nguyên đơn chị Đinh Thị Tuyết M và bị đơn anh Trần Tiến Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger