Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 4297/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-5-2024

V/v: Ly hôn.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Hoàng Xuân Hồng
  • 2. Ông Phạm Văn Tâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 2325/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3224/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3905/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Căn hộ A, tầng A, tòa S1.06, khu dân cư và công viên P, số E đường N, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Vũ Công H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Căn hộ A, tầng A, tòa S1.06, khu dân cư và công viên P, số E đường N, tổ A, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

1.Trong đơn xin ly hôn ngày 15/3/2023 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B trình bày:

Bà và ông Vũ Công H tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01/2007 ngày 11/01/2007. Ngay sau khi về chung sống chung thì cuộc sống chung của bà và ông H đã phát sinh ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống trong cách chăm sóc con cái và vấn đề tài chính trong gia đình. Ông H thường coi trọng đồng tiền và hoàn toàn không quan tâm, chia sẻ đến cảm xúc của bà. Tuy cuộc sống chung của vợ chồng không thường xuyên tranh cải nhau vì bà B không muốn những mâu thuẫn của vợ chồng lại ảnh hưởng đến con cái nên bà B chọn cách im lặng và tự giải quyết một mình. Bà cũng đã nhiều lần nói chuyện với ông H, nhằm khuyên ông thay đổi nhưng ông H vẫn không thay đổi, khiến cho cuộc sống chung càng ngày càng trầm trọng hơn. Hiện vợ chồng bà vẫn còn chung sống với nhau, nhưng bà xác định bà không còn tình cảm, không còn yêu thương và không muốn gắn bó với ông H nữa. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Công H.

Về con chung: Bà B và ông H có 02 con chung tên: Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 và Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020. Bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, nếu như ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 thì bà B đồng ý giao con chung tên Vũ Phúc A cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng trong việc nuôi con chung. Còn đối với con chung Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020 bà yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng và bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng trong việc nuôi con chung.

  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Bà B khai không có.

2. Bị đơn là ông Vũ Công H trình bày: Ông H xác định quá trình chung sống có đăng lý kết hôn như bà B trình bày. Cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà B có những mâu thuẫn nhưng ông H cho rằng những mâu thuẫn đó không có lớn, và càng không nghĩ bà B lại không hài lòng về những lời nói của ông và giữ trong người từ khi về chung sống với nhau như vậy. Ông H cho rằng những mâu thuẫn này ông có thể khắc phục được. Về yêu cầu ly hôn của bà B thì ông H không đồng ý vì hiện: Con chung tên Vũ Quốc A1 hiện nay 03 tuổi từ nhỏ hay bị bệnh và từng bị can thiệp mổ nằm viện do bệnh teo thực quản bẩm sinh, sức khỏe của cháu cũng không được tốt nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của cả người cha và người mẹ sẽ tốt cho con hơn. Bản thân ông H rất mong muốn hàn gắn gia đình để cùng nhau chăm sóc con cái nên ông H không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B.

- Về con chung: Ông H và bà B có 02 con chung tên: Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 và Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020. Đối với yêu cầu của bà B là giao con chung tên Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và bà B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020. Hai bên không thực hiện việc cấp dưỡng qua lại trong việc nuôi con chung thì ông H đồng ý với yêu cầu về con chung của bà B.

  • - Về tài sản chung: Ông H xác định vợ chồng không có tài sản chung.
  • - Nợ chung: Không có.

Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành.

4. Tại phiên tòa:

Bà B vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông H, yêu cầu giao con chung tên Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020. Hai bên không thực hiện việc cấp dưỡng qua lại trong việc nuôi con chung. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Ông H không đồng ý ly hôn, cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà B có những mâu thuẫn nhưng ông H cho rằng những mâu thuẫn đó không lớn, ông có thể khắc phục được. Hơn nữa hiện con chung tên Vũ Quốc A1 03 tuổi từ nhỏ hay bị bệnh và từng bị can thiệp mổ nằm viện do bệnh teo thực quản bẩm sinh, sức khỏe của cháu cũng không được tốt nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của cả người cha và người mẹ sẽ tốt cho con hơn. Bản thân ông H rất mong muốn hàn gắn gia đình để cùng nhau chăm sóc con cái nên ông H không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B.

Về con chung: Ông H và bà B có 02 con chung tên: Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 và Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020. Đối với yêu cầu của bà B là giao con chung tên Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và bà B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020. Hai bên không thực hiện việc cấp dưỡng qua lại trong việc nuôi con chung thì ông H đồng ý với yêu cầu về con chung của bà B.

  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Ông H khai không có

8. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị

Số tiền tạm ứng án phí đã đóng xử lý theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà B và ông H đã được Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01/2007 ngày 11/01/2007. Bà B nộp đơn yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Ông H hiện cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về yêu cầu ly hôn:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01/2007 ngày 11/01/2007 do Ủy ban nhân dân Phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị B và ông Vũ Công H thì quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông H là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của bà B trong quá trình chung sống, vợ chồng bà B thường phát sinh mâu thuẫn do cả hai luôn bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn. Nay bà B xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Ông H không đồng ý ly hôn với bà B với lý do con còn nhỏ, không muốn việc ly hôn làm ảnh hưởng đến con cái. Ông H không có lỗi trong việc dẫn đến vợ chồng phải ly hôn.

Theo kết quả xác minh của Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố T và Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T đều trả lời không nắm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa bà B, ông H.

Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình....Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...."

Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, Điều đó cho thấy, giữa bà B và ông H không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau, không sống chung với nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà B yêu cầu được ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về con chung:

Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Tại tờ trình bày nguyện vọng ngày 03/7/2023, người con Vũ Phúc A đều có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét bà B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng người con Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020 và yêu cầu giao con chung tên Vũ Quốc A1, sinh ngày 16/5/2008 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, nhưng cháu Phúc A không có nguyện vọng ở với ông H và tại phiên tòa bà B xác định bà vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con nên có cơ sở giao cháu Vũ Phúc A và Vũ Quốc A1 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu của ông H được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Vũ Phúc A là phù hợp với nguyện vọng của con, nên không có cơ sở chấp nhận.

[4] Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà B không có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

[5] Về tài sản chung: Bà B và ông H đều khai tài sản chung tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà B phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà B đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0003451 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị B và ông Vũ Công H thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 06, quyển số 01/2007 ngày 11/01/2007 do Ủy ban nhân dân phường A2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị B và ông Vũ Công H không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Vũ Phúc A, sinh ngày 16/5/2008 và Vũ Quốc A1, sinh ngày 10/10/2020 sẽ do bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Vũ Công H không cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom con chung.

Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có.
  • - Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà B phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà B đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0003451 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP. HCM;
  • - Viện KSND Tp Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS Tp Thủ Đức;
  • - UBND P.15, quận Gò Vấp;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hữu Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4297/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 4297/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger