Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 429/2024/DS-PT

Ngày 15 – 10 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập

Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế

Bà Châu Minh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 9 và ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 297/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 326/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thành S, sinh năm 1944 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S: Ông Võ Thanh T là Luật sư của Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Thuận, xã Phong Điền, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: Khóm 7, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1980 (có mặt).
  2. Anh Huỳnh Minh N, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà B: Ông Phạm Huy Đ là Luật sư của Văn phòng Luật sư Phạm Huy Đ – Sông Đ, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc B, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo ông Huỳnh Thành S trình bày:

Vào ngày 15/02/2007âl, ông có nhận cầm cố của ông Huỳnh Quốc V phần đất diện tích 06 công (tầm 3 mét) với giá 30 chỉ vàng 24k (01 công 5 chỉ vàng 24k), đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; thời hạn cầm cố là 03 năm. Khi cầm cố các bên có thoả thuận nếu đến hạn ông V không chuộc đất thì ông S tiếp tục canh tác, khi nào ông V chuộc đất thì thông báo cho ông S trước 06 tháng, việc cầm cố đất có lập văn bản có ông Huỳnh Thanh L, ông Lê Văn V1 và bà Vũ Thị T1 biết.

Sau khi nhận cầm cố đất, ông S giao cho con ông là ông Huỳnh Chí Đ1 cùng vợ là bà Nguyễn Ngọc B mượn phần đất này để canh tác, việc cho mượn đất không có lập thành văn bản. Đến ngày 05/11/2008 ông Đ1 chết, sau khi ông Đ1 chết ông S vẫn để cho bà B tiếp tục canh tác phần đất này.

Đến năm 2020, ông V1 cho hay sẽ chuộc lại đất, ông đồng ý nhưng bà B không đồng ý trả lại đất với lý do nếu bà B trả lại đất thì ông phải trả lại cho bà B 30 chỉ vàng 24k nên xảy ra tranh chấp.

Nay ông S yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 15/02/2007âl giữa ông S với ông V1 là vô hiệu; buộc ông V1 trả lại cho ông S 30 chỉ vàng 24k; buộc bà B có nghĩa vụ trả lại cho ông V1 phần đất 06 công (tầm 3 mét), đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Theo ông Huỳnh Quốc V trình bày:

Ông V xác định có cầm cố cho ông S 06 công đất (tầm 3 mét) với giá 30 chỉ vàng 24k vào ngày 15/02/2007âl như ông S trình bày và ông thống nhất với yêu cầu của ông S. Do điều kiện công việc nên ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Theo bà Nguyễn Ngọc B trình bày:

Phần đất cầm cố của ông V là do vợ chồng bà đưa vàng cho ông S để làm thủ tục cầm cố và ông S đứng tên. Khi làm giấy cầm cố đất, ông Đ1 có đưa cho ông S 09 chỉ vàng 24k để giao cho ông V, bà và ông Đ1 quản lý canh tác đất. Đến năm 2008 ông Đ1 chết; năm 2009 bà về bên cha mẹ ruột của bà sinh sống nhưng bà vẫn quản lý canh tác phần đất này cho đến nay. Khi bà về bên cha mẹ ruột sinh sống thì ông S có buộc bà giao tiếp 21 chỉ vàng 24k và ông S đưa lại giấy cầm cố đất giữa ông S với ông V cho bà giữ. Khi ông S đưa lại giấy cầm cố đất cho bà thì có ông Nguyễn Văn L1 (cha ruột của bà), ông Ngô Văn L2, ông Huỳnh Văn N1 và bà Quách Thị H (mẹ chồng) chứng kiến; đến 07 ngày sau bà giao số vàng 21 chỉ vàng 24k cho ông S, bà H là người nhận vàng, có sự chứng kiến của anh Huỳnh Minh N là con của bà.

Đến năm 2012 xảy ra tranh chấp với ông S, bàcó yêu cầu đến chính quyền địa phương để giải quyết nhưng không thành. Nay bà đồng ý hợp đồng cầm cố đất giữa ông S với ông V ngày 15/02/2007âl là vô hiệu, bà đồng ý giao 06 công đất lại cho ông S để ông S trả cho ông V, yêu cầu ông S phải trả lại cho bà 30 chỉ vàng 24k.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau quyết định:

Tuyên bố hợp đồng cố đất theo giấy cố đất lập ngày 15/02/2007âl giữa ông Huỳnh Thành S với ông Huỳnh Quốc V là vô hiệu.

Buộc ông Huỳnh Quốc V phải giao trả lại cho ông Huỳnh Thành S 30 chỉ vàng 24k.

Buộc bà Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm giao trả lại cho ông Huỳnh Quốc V diện tích theo đo đạc thực tế 9.671,8m²; đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Ngọc B về việc yêu cầu ông Huỳnh Thành S trả số vàng 30 chỉ vàng 24k.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 23/7/2024, bà Nguyễn Ngọc B có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của bà B, buộc ông S trả cho bà B 30 chỉ vàng 24k.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Ngọc B giữ nguyên kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Luật sư Đ phát biểu: Phần đất cầm cố của ông V là do vợ chồng bà B nhận cầm cố, nhưng nhờ ông S đứng tên dùm trên giấy tờ. Số vàng cầm cố đất 30 chỉ vàng 24k là của vợ chồng bà B. Khi cầm cố, vợ chồng bà B có đưa cho ông S 09 chỉ và mượn của ông S 21 chỉ để giao cho ông V. Đến năm 2009, bà B đã trả lại cho ông S 21 chỉ và ông S giao lại giấy cầm cố đất cho bà Bích giữ. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà B, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của bà B.

B phát biểu: Thống nhất với ý kiến phát biểu của Luật sư Đ.

Luật sư T phát biểu: Phần đất cầm cố của ông V là do ông S nhận cầm cố, ông S cho vợ chồng bà B mượn phần đất nhận cầm cố của ông V để canh tác. Số vàng cầm cố đất 30 chỉ là của ông S. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ông S phát biểu: Thống nhất với ý kiến phát biểu của Luật sư T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ông Huỳnh Thành S khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố đất xác lập ngày 15/02/2007âl giữa ông Huỳnh Thành S với ông Huỳnh Quốc V là vô hiệu; buộc ông V trả lại cho ông S 30 chỉ vàng 24k; buộc bà Nguyễn Ngọc B có nghĩa vụ trả lại cho ông V phần đất 06 công đất (tầm 3 mét), theo đo đạc thực tế 9.671,8m², đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Bà Nguyễn Ngọc B có yêu cầu độc lập, buộc ông Huỳnh Thành S trả cho bà B 30 chỉ vàng 24k nhận cầm cố đất của ông Huỳnh Quốc V. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thành S, không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Ngọc B. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Huỳnh Thành S và ông Huỳnh Quốc V không có kháng cáo; bà Nguyễn Ngọc B kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, buộc ông S trả cho bà B 30 chỉ vàng 24k.

[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc B, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Bà B cho rằng phần đất nhận cầm cố của ông V là do vợ chồng bà B và ông Đ1 nhận cầm cố nhưng nhờ ông S đứng tên giấy tờ giao dịch cầm cố, còn đất do bà B và ông Đ1 quản lý canh tác. Đối với số vàng cầm cố đất 30 chỉ vàng 24k, khi lập hợp đồng cầm cố, bà và ông Đ1 giao cho ông S 09 chỉ, còn lại mượn của ông S 21 chỉ để ông S giao cho ông V. Đến năm 2008, ông Đ1 chết; sau khi ông Đ1 chết khoảng 02 tháng thì giữa bà với gia đình ông S xảy ra mâu thuẫn nên bà về nhà cha mẹ ruột ở, khi đó ông S có giao lại cho bà hợp đồng cố đất giữa ông S với ông Huỳnh Tứ P lập ngày 15/12/2006, và hợp đồng cố đất giữa ông S với ông Huỳnh Quốc V lập ngày 15/02/2007âl; ông S yêu cầu bà trả lại 21 chỉ vàng mượn cố đất. Sau đó 07 ngày, bà có trả lại 21 chỉ vàng 24k cho ông S do bà Quách Thị H là vợ ông S nhận.

Ông S cho rằng phần đất nhận cầm cố của ông P và của ông V là do ông nhận cầm cố. Ông S thừa nhận có nhận của bà B 21 chỉ vàng 24k là vàng mà vợ chồng bà Bích mượn của ông để cố phần đất của ông P. Thời điểm đó vợ chồng ông Đ1 chỉ có 09 chỉ vàng 24k, ông cho mượn thêm 21 chỉ vàng 24k để chồng vàng cho ông P. Còn số vàng 30 chỉ vàng 24k cố đất của ông V là vàng của ông đưa cho ông V. Sau khi xảy ra mâu thuẫn giữa gia đình ông với bà B thì ông có trả lại giấy cố đất giữa ông với ông P cho bà B do bà B đã trả 21 chỉ vàng 24k cho ông. Còn giấy cố đất giữa ông với ông V thì ông giữ, ông không có giao cho bà B.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh ghi ý kiến của ông Huỳnh Tứ P, ông Huỳnh Thanh L. Ông P xác định có cầm cố 07 công (tầm 3m) cho ông S vào ngày 15/12/2006 với giá 30 chỉ vàng 24k, thời hạn cố là 03 năm, số vàng 30 chỉ vàng 24k là vàng do vợ chồng ông Đ1 giao, do đất ông cầm cố cho vợ chồng ông Đ1 quản lý sử dụng, ông S chỉ đứng tên trên hợp đồng cầm cố. Ông L xác định hợp đồng cầm cố đất lập ngày 15/02/2007âl, giữa ông S với ông V là do ông viết; thời điểm đó ông viết 02 tờ, 01 tờ viết xong, còn lại 01 tờ ông chỉ viết đoạn đầu, còn đoạn sau là ông Đ1 viết, nội dung giống nhau. Sau đó ông S đi nhờ ông Lê Văn V1 và bà Vũ Thị T1 xác nhận, về nhà ông S giao vàng cho ông V1. Tờ còn lại ông V1 nhờ ông nhận dùm nhưng khi về ông bỏ quên ở nhà ông S.

[2.2] Qua xem xét chứng cứ xác định, việc cầm cố đất giữa ông V1 và ông S là thực tế, ông V1 thừa nhận có nhận số vàng cố đất 30 chỉ vàng 24k từ ông S, không có nhận vàng của bà B. Ông S nhận 21 chỉ vàng của bà B là vàng cố đất của ông P nên ông S đã trả lại giấy cố đất cho bà B, bà B đi thực hiện hợp đồng cầm cố đất với ông P và ông P làm thủ tục gia hạn hợp đồng với bà B thêm 02 năm để nhận thêm 25.000.000 đồng và làm lại tờ giao kèo cố đất vẫn ghi ngày 15/12/2006, thời điểm này khoảng năm 2009 theo lời trình bày của ông P là phù hợp. Bà B cho rằng sau khi xảy ra mâu thuẫn với gia đình ông S, bà về gia đình cha mẹ sống lúc đó ông S đã giao 02 giấy cố đất cho bà, bà trả 21 chỉ vàng 24k là vàng cố đất của ông V1 nhưng vì sao bà không trực tiếp gặp ông V1 để thực hiện lại giao dịch cầm cố trong khi bà đang quản lý phần đất cầm cố của ông V1 như trước đó bà đã thực hiện với ông P. Ngoài ra, bà B có cung cấp giấy cố đất lập ngày 15/02/2007âl giữa ông V1 với ông S nhưng phía sau không có xác nhận của người chứng kiến như giấy cầm cố mà ông S đang giữ và theo lời khai của ông L là giấy này ông L đã để quên lại nhà ông S.

[2.3] Hơn nữa, tại phiên toà sơ thẩm, khi đại diện Viện kiểm sát hỏi bà B: “Chị xác định phần vàng này chị có yêu cầu không?”; bà B trả lời: “Tôi xin cha chồng tôi cho cháu nội là con tôi, tôi không yêu cầu về phần 30 chỉ vàng”. Tại phiên toà phúc thẩm, bà B xác nhận tại phiên toà sơ thẩm bà có trình bày đúng như vậy. Vấn đề đặt ra, nếu bà B đã xác định số vàng cố đất của ông V1 30 chỉ là của vợ chồng bà B, bà B đã có đơn yêu cầu độc lập buộc ông S trả cho bà B 30 chỉ vàng 24k, nhưng vì sao bà B lại xin ông S cho con bà B số vàng này, còn bà B không yêu cầu.

Đồng thời qua xác minh đối với bà Quách Thị H vào ngày 27/9/2024, bà Hành xác Đ2 có nhận 21 chỉ vàng 24k do bà B trả, nhưng số vàng này là bà Bích mượn để cố đất của ông Huỳnh Tứ P.

[3] Từ nhận định trên, xét thấy chưa có sơ sở xác định số vàng cố đất của ông V1 30 chỉ là của vợ chồng bà B; Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà B về việc buộc ông S trả cho bà B 30 chỉ vàng 24k là có căn cứ. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc B, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Tuy nhiên, xét về trách nhiệm trả lại phần đất cầm cố cho ông V1 thấy rằng: Mặc dù phần đất cầm cố hiện nay do bà B trực tiếp quản lý canh tác, nhưng ông S là người giao dịch cầm cố với ông V1, nên ông S cũng phải có trách nhiệm trong việc giao trả lại đất cho ông V1, nhưng cấp sơ thẩm chỉ buộc riêng bà B có trách nhiệm giao trả đất là chưa phù hợp. Do đó, cấp phúc thẩm có điều chỉnh lại cách tuyên, buộc ông S và bà B có trách nhiệm giao trả lại đất cho ông V1.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: bà B phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc B.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thành S.
    • Tuyên bố hợp đồng cầm cố đất giữa ông Huỳnh Thành S với ông Huỳnh Quốc V được xác lập theo giấy cố đất ngày 15/02/2007âl là vô hiệu.
    • Buộc ông Huỳnh Quốc V trả lại cho ông Huỳnh Thành S 30 chỉ vàng 24k.
    • Buộc ông Huỳnh Thành S và bà Nguyễn Ngọc B có trách nhiệm giao trả lại cho ông Huỳnh Quốc V diện tích theo đo đạc thực tế 9.671,8m²; đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau theo bản vẽ hiện trạng lập ngày 10/8/2023 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T2.
    • (Có bản Trích đo hiện trạng kèm theo)
  2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Ngọc B về việc yêu cầu ông Huỳnh Thành S trả cho bà B 30 chỉ vàng 24k.
  3. Chi phí tố tụng số tiền 9.260.000 đồng: Ông Huỳnh Thành S phải chịu, ông S đã nộp xong.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Thành S được miễn chịu án phí. Ông Huỳnh Quốc V phải chịu án phí không giá ngạch 300.000 đồng và án có giá ngạch 11.220.000 đồng. Bà Nguyễn Ngọc B phải chịu án phí có giá ngạch 11.220.000 đồng. Ngày 29/12/2022, bà B đã dự nộp 3.983.000 đồng theo biên lai thu số 0005970 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, đối trừ bà B còn phải nộp tiếp 7.237.000 đồng.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Ngọc B phải chịu là 300.000 đồng. Ngày 23/7/2024 bà B đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005338 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được đối trừ chuyển thu án phí.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lập

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 429/2024/DS-PT ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố đất

  • Số bản án: 429/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay ông S yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 15/02/2007âl giữa ông S với ông V1 là vô hiệu; buộc ông V1 trả lại cho ông S 30 chỉ vàng 24k; buộc bà B có nghĩa vụ trả lại cho ông V1 phần đất 06 công tầm (03 mét) đất toạ lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger