Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 429/2024/DS-PT

Ngày: 30/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Sang

Bà Phạm Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 272/2024/TLPT-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 363/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị H, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; hộ khẩu thường trú: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là bị đơn. Ông Lê Văn C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 01 năm 2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị H trình bày:

Trương Thị H có tham gia các dây hụi do bà Nguyễn Thị N làm chủ thảo hụi cụ thể như sau:

Dây hụi thứ 1, khui ngày 04/05/2020 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng, một tháng khui 01 lần, gồm 20 phần, trong đó bà H tham gia 02 phần. Bà H đã đóng đến ngày 04/02/2021 (âm lịch) thì bà N ngưng không gom hụi nữa, bà H đã đóng được 10 kỳ, trung bình mỗi kỳ bà H đóng 01 phần là 750.000 đồng x 10 kỳ x 2 phần 15.000.000 đồng.

Dây hụi thứ 2, khui ngày 15/10/2020 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng, một tháng khui 01 lần, gồm 20 phần, trong đó bà H tham gia 01 phần. Bà H đã đóng đến ngày 15/02/2021(âm lịch) thì bà N ngưng không gom hụi nữa, bà H đã đóng được 5 kỳ, trung bình mỗi kỳ bà H đóng 01 phần là 734.000 đồng x 5 kỳ = 3.670.000 đồng

Vì bà N là cán bộ Hội phụ nữ xã T nên bà H rất tin tưởng bà N, khi tham gia hụi bà N không giao cho bà H danh sách hụi nhưng khi đóng tiền hụi bà N có ký tên vào sổ ghi hụi cho bà H. Tổng số tiền hụi gốc bà H đã đóng cho bà N là 18.670.000 đồng. Tháng 02 năm 2021 (âm lịch) bà N tuyên bố bể hụi nhưng đến nay vẫn chưa trả tiền lại cho bà H.

H nghe nói là bà N làm thảo nhiều dây hụi nhưng bà H không biết bao nhiêu dây. Bà H có biết khoảng 5 đến 6 người ở gần nhà bà H có tham gia cùng với các dây hụi mà bà H đang khởi kiện bà N gồm có bà H, bà S (ủy quyền cho con gái tên P tham gia), bà T và bà N1 (sinh sống ở miền tây nhưng bà H không biết địa chỉ cụ thể, (bà T và bà N1 không khởi kiện bà N) và chị M. Hiện nay, theo bà H được biết thì bà H, chị P và chị M cũng đang khởi kiện bà N tại Tòa án.

Khi đến nhà bà N để khui hụi thì có mặt ông C, do đó, theo bà H ông C biết việc bà N làm thảo hụi và tiền kiếm được thì bà N cũng chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình. Khi khui hụi theo bà H thì có bỏ thăm, những người muốn đóng đến mãn thì không đi bỏ thăm, bà H có tham gia bỏ thăm 2 lần. Bà H có chứng kiến bà N giao hụi cho người khác. Lý do bà N tuyên bố bể hụi thì bà H không biết.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xem xét, giải quyết buộc bà Nguyễn Thị N cùng chồng là ông Lê Văn C phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền nợ hụi là 18.670.000 đồng, ngoài ra bà H không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản tự khai ngày 25/5/2024 bà Nguyễn Thị N trình bày như sau:

N không đồng ý trả lại cho bà H số tiền hụi là 18.670.000 đồng vì việc bà H cung cấp các giấy khui hụi và giấy vay cho Tòa án khi khởi kiện không ghi rõ họ, tên của chủ hụi có phải là bà N hay không và không xác định được bà H có phải là người tham gia góp hụi của bà N và được chủ hụi xác nhận là hụi viên hay không. Do đó, những tài liệu mà bà H cung cấp không được chủ hụi và người tham gia góp hụi ký và ghi rõ họ, tên. Đối với những chứng cứ mà bà H cung cấp cho Tòa án thì bất kỳ ai cũng lập được và chứng cứ này không phải là của bà N chủ hụi, bà N cũng không ký họ, tên trong những chứng cứ mà bà H cung cấp để khởi kiện. Vì vậy, bà N đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của bà H.

Tại bản tự khai ngày 20/5/2024 và ngày 28/5/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày:

Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N là vợ chồng, theo yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C phải trả lại tiền hụi cho bà H thì ông C không đồng ý vì những lý do như sau: Thứ nhất, việc bà N có chơi hụi với bà H hay không thì ông C không biết. Thứ hai, ông C là người dân không biết chữ, không biết viết, chỉ suốt ngày đi bắt dưới sông từ 05 giờ sáng đến trưa về nhà, chiều đến thì chăm sóc cây ăn trái trong vườn nhà, vợ chồng ông C cũng không có con cái gì hết. Những chi phí sinh hoạt trong gia đình cũng từ việc bán cây trái trong vườn, từ việc bắt cá đem đi bán, rồi tiền trợ cấp thương bình hàng tháng của ông C, gia đình ông C cũng không thiếu thốn, cũng không phải chi phí nhiều nên việc bà N có chơi hụi của bà H hay không ông C không biết và không liên quan đến ông C. Trong quá trình chung sống ông C cũng không nghe bà N nói gì về việc chơi hụi của ai. Vì vậy, ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H vì ông C không liên quan đến đến số tiền mà bà H kiện bà N. Ông C đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu ông C phải trả tiền cho bà H. Do tuổi già, sức khỏe yếu nên ông C xin được Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại bản án số 115/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

11. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H đối với bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.

Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị H số tiền hụi là 18.670.000 (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng. Ghi nhận, bà Trương Thị H không yêu cầu tính tiền lãi.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/6/2024 ông Lê Văn C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu ông C phải trả tiền hụi cho bà H.

Ngày 28/6/2024 bà Nguyễn Thị N kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H vì bà không có chơi hụi với bà H.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn bà N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông C. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà N. Do tại cấp phúc thẩm ông C nộp đơn đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi nên sửa bản án sơ thẩm về án phí; ông C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Trương Thị H khởi kiện “tranh chấp hợp đồng góp hụi” với bị đơn bà Nguyễn Thị N tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

N cho rằng bà có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nhưng hiện nay bà đang cư trú tại: Tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; việc Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án là không đúng thẩm quyền.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù hiện tại bà N có đăng ký tạm trú tại tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nhưng hiện tại bà vẫn còn hộ khẩu thường trú tại Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng với chồng là ông Lê Văn C. Sau khi bà N bị vỡ hụi thì các hụi viên đã khởi kiện bà N và yêu cầu bà N, ông C (chồng bà N) cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho nhiều người, trong đó có bà H. Hiện tại ông C đang cư trú tại Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trương Thị H là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lê Văn C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông C, bà N.

N kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia phiên tòa, được coi như bà N đã từ bỏ quyền kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà N.

[2]. Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn bà Trương Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi bà H đã góp cho bà N, gồm nhiều dây hụi với số tiền là 18.670.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng). Chứng cứ bà H cung cấp là quyển sổ hụi do bà N giao; trong đó ghi nhiều dây hụi bà H tham gia; mỗi tháng góp hụi bà N tự ghi số tiền hụi kêu hốt và số tiền phải đóng hàng tháng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H và cho rằng chứng cứ bà H cung cấp các giấy ghi hụi cho Toà án không ghi rõ họ và tên của chủ hụi có phải là bà hay không, không xác định được bà H có phải là người chơi hụi hay không. Đối với những chứng cứ bà H giao nộp thì bất kì ai cũng lập được và chứng cứ này không phải do bà là chủ hụi.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo không đồng ý có nghĩa vụ liên đới cùng bà N trả nợ hụi cho bà H của ông Lê Văn C, thấy rằng:

Nguyễn Thị N làm chủ nhiều dây hụi tại địa phương khoảng hơn 10 năm (từ năm 2011 đến tháng 02-2021) thì ngưng và tuyên bố vỡ hụi sau đó bà N rời địa phương đi nơi khác sinh sống. Các dây hụi của bà N hàng tháng đều tổ chức khui hụi tại nhà bà N, ông C.

Qua xác minh các hụi viên tham gia góp hụi của bà N đều thể hiện: Khi mở hụi, bà N không lập danh sách các hụi viên tham gia để giao cho từng hụi viên; mỗi hụi viên tham gia dây hụi thì bà N giao cho 01 quyển sổ ghi dây hụi bao nhiêu tiền, ngày tháng năm mở hụi và tổng số hụi viên tham gia (tính là phần). Hàng tháng, bà N đến nhà hụi viên gom hụi (nhận tiền hụi) thì tự ghi vào sổ hụi do bà cung cấp; ghi số tiền hụi kêu hốt và số tiền phải đóng.

Đến năm 2021 bà N ngưng các dây hụi và bỏ đi nhưng không thông báo cho các hụi viên biết và cũng không chốt nợ hụi với ai. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu bà N, ông C cùng có nghĩa vụ trả số tiền hụi bà H đã góp cho bà N tổng cộng là 18.670.000 đồng.

Xét thấy, đến thời điểm hiện nay bà N và ông C vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng, việc bà N tổ chức nhiều dây hụi trong nhiều năm tại nhà thì ông C đều biết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N và ông C cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền hụi 18.670.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông C kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo.

[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tại cấp phúc thẩm ông C mới nộp Đơn xin miễn tiền án phí nên Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm về việc miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông C.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309, khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ông Lê Văn C.

- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình các Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị H đối với bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.

Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị H số tiền hụi là 18.670.000 (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng. Ghi nhận, bà Trương Thị H không yêu cầu tính tiền lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Trương Thị H cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

- Bà Trương Thị H không phải chịu và được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

- Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C phải chịu nhưng được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

3.Về án phí dân sự phúc thẩm:

N, ông C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND huyện Tân Châu;
  • - CCTHADS huyện Tân Châu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 429/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 429/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger