Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 429/2024/HS-ST

Ngày: 28-08-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

  2. Bà Võ Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Khải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 330/2024/HSST ngày 25/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 445/2024/QĐXXST-HS ngày 06/08/2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H; sinh năm: 1968 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F Đại lộ B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số F Đại lộ B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Lê Thị P (chết); Bị cáo có vợ là Trần Thị Ngọc T (chết) và có 03 con; Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024, đến ngày 25/03/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Võ Huy H1; sinh năm: 1969 tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 239 Đại lộ C, Tổ A, Khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số A Đường B, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Huy L và bà Hồ Thị T1; Bị cáo có vợ là Phạm Bích T2 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân: Năm 2006, 2010 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (Đã chấp hành xong).

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024, đến ngày 25/03/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Lê Minh N; sinh năm: 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: E Đ, Tổ F, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: E Đ, Tổ F, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị Đ; Bị cáo có vợ là Lê Thị Ngọc M và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Năm 2010 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (Đã chấp hành xong).

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024, đến ngày 25/03/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Lê Văn S; sinh năm: 1980 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 62/3 H, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 25/45 Đường B, Tổ H, Khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H2 và bà Trịnh Thị V ; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T3 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân: Năm 2018 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (Đã chấp hành xong).

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2024, đến ngày 25/03/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Huy H1, Lê Văn S, Lê Minh N là bạn bè quen biết với nhau từ trước thường xuyên uống cà phê tại quán C house, địa chỉ tại số A đường B, khu dân cư N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do bị cáo Võ Huy H1 làm chủ.

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 15/11/2023, Nguyễn Văn H đến quán C để uống cà phê, một lúc sau thì Võ Huy H1, Lê Văn SLê Minh N cũng đến uống cà phê thì cả bốn người gặp nhau, rồi cùng rủ nhau đánh bài binh xập xám, tính chi, ăn thua bằng tiền, mỗi chi là 100.000 đồng. Các bị cáo H1, S, N và Huế thống nhất dùng 04 bộ bài tây loại 52 lá có sẵn trong quán cà phê để đánh bài, mỗi bộ bài chơi 16 ván sẽ thay bộ bài khác đến khi nào hết 04 bộ bài là 64 ván thì căn cứ điểm trên giấy và chung tiền, mỗi ván bài sẽ ghi điểm (1 điểm là 1 chi) thắng thua của từng người lên tờ giấy A4, không đậu chến, kết thúc 64 ván bài sẽ trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi các bị cáo H1, S, N, H đánh xong ván thứ 64 và đang chung tiền thắng thua thì Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra phát hiện nên đưa các đối tượng trên về trụ sở làm việc, đồng thời thu giữ vật chứng và đồ vật liên quan đến việc đánh bạc.

Tại Công an phường P và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Huy H1, Lê Minh N, Lê Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, đồng thời trên cơ sở kết quả ghi điểm thắng thua trên 04 tờ giấy A4 đã xác định Nguyễn Văn H thua 31 điểm (chi) tương ứng với số tiền 3.100.000 đồng; Võ Huy H1 thắng 99 điểm (chi) tương đương với số tiền là 9.900.000 đồng; Lê Minh N thua 22 (chi) tương ứng với số tiền 2.200.000 đồng; Lê Văn S thua 46 điểm (chi) tương ứng với số tiền 4.600.000 đồng.

* Vật chứng và đồ vật thu giữ:

  • - 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) tờ giấy A4 ghi điểm đánh bạc; 04 (bốn) cái ghế; 01 (một) cái bàn;

  • - Số tiền 4.151.000 đồng, (1.976.000 đồng thu giữ của N; 2.175.000 đồng của H1);

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax (đã qua sử dụng) của Huế; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XsMax (đã qua sử dụng) của H1; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax (đã qua sử dụng) của N; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax (đã qua sử dụng) của S;

  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Click 150, màu xanh, biển số: 59X4 052.97 (đã qua sử dụng). Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Minh N là chủ sở hữu;

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax (đã qua sử dụng). Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Văn S là chủ sở hữu.

Bản Cáo trạng số 323/CTr-VKSTPTĐ ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Huy H1, Lê Minh N, Lê Văn S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

    • + Xử phạt các bị cáo Võ Huy H1, Lê Minh N, Lê Văn S mỗi bị cáo: Từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi.

  • Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy đối với các vật chứng dùng để đánh bạc không còn giá trị sử dụng. Trả cho các bị cáo N, H1 số tiền đã thu giữ, trường hợp có các nghĩa vụ phải thi hành án thì tạm giữ lại cho đến khi thi hành án xong. Trả lại cho các bị cáo các điện thoại đã thu giữ do không liên quan đến vụ án. Buộc các bị cáo H, N, S nộp lại số tiền đã dùng để đánh bạc tương ứng để sung quỹ nhà nước.

  • Các bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận.

  • Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin cho hưởng án treo để sớm có cơ hội làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/11/2023, tại quán C, địa chỉ số A Đường B, khu dân cư N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Huy H1, Lê Minh N, Lê Văn S có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh xập xám, tính chi, ăn thua bằng tiền, mỗi chi 100.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.900.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:

Các bị cáo cùng bị xét xử ở khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Văn H có cha là liệt sĩ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Lê Văn S thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng, bị cáo Nguyễn Văn H ra đầu thú nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với các bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, việc đánh bạc của các bị cáo đã tiếp tay cho các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an tại địa phương và an toàn xã hội. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét thấy vụ án có đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn chứ không có sự cấu kết chặt chẽ trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo có vai trò như nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, xét các bị cáo H, S có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo H1, N, S đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tuy thời gian bị xử phạt đã lâu nhưng cũng cần xử phạt bị cáo H1, N mức hình phạt nặng hơn các bị cáo H, S, đồng thời xử phạt bị cáo S mức án dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và có ý nghĩa trong việc phân loại tội phạm.

Xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Đồng thời tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo, sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung đối với các bị cáo: Không áp dụng.

[7] Về xử lý vật chứng và vật, tiền liên quan đến việc phạm tội:

  • Đối với số tiền 4.151.000 đồng, trong đó 1.976.000 đồng thu giữ của N và 2.175.000 đồng của H1: Xét bị cáo N dùng 2.200.000 đồng để đánh bạc nên cần buộc bị cáo N nộp lại 2.200.000 đồng để sung quỹ nhà nước, đã thu giữ của bị cáo N 1.976.000 đồng nên buộc bị cáo N nộp thêm 224.000 đồng. Trả lại cho bị cáo H1 số tiền 2.175.000 đồng.

  • Bị cáo S dùng 4.600.000 đồng để đánh bạc, bị cáo H dùng 3.100.000 đồng để đánh bạc nên cần buộc bị cáo S nộp lại 4.600.000 đồng, buộc bị cáo H nộp lại 3.100.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

  • Đối với: 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá; 04 (bốn) cái ghế; 01 (một) cái bàn. Xét đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

  • Đối với: 01 (một) tờ giấy A4 ghi điểm đánh bạc. Đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ.

  • Đối với:

    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax thu giữ của Huế. Xét tài sản này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo H, tuy nhiên tạm giữ lại cho đến khi bị cáo H thi hành xong các nghĩa vụ về tài sản khác của bản án.

    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XsMax thu giữ của H1. Xét tài sản này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo H1.

    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax thu giữ của N. Xét tài sản này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo N, tuy nhiên tạm giữ lại cho đến khi bị cáo N thi hành xong các nghĩa vụ về tài sản khác của bản án.

    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax thu giữ của S. Xét tài sản này không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo S, tuy nhiên tạm giữ lại cho đến khi bị cáo S thi hành xong các nghĩa vụ về tài sản khác của bản án.

  • Đối với: 01 xe mô tô hiệu Honda Click 150, màu xanh, biển số: 59X4 052.97. Đây là tài sản của bị cáo N không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho N là đúng quy định của pháp luật.

  • Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax. Đây là tài sản của Lê Văn S không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Văn S là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[9] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  • Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Căn cứ Luật Thi hành án hình sự năm 2019;

  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Huy H1, Lê Minh N, Lê Văn S phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 28/08/2024.

    Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án là ngày 28/08/2024.

    Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt: Bị cáo Lê Minh N: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 28/08/2024.

    Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  • Xử phạt: Bị cáo Võ Huy H1: 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 28/08/2024.

    Giao bị cáo H1 cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú mang các số 209/2024/HSST-BPNC, 210/2024/HSST-BPNC, 211/2024/HSST-BPNC, 212/2024/HSST-BPNC cùng ngày 25/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo cho đến khi các bị cáo nhận được quyết định thi hành án hoặc quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn khác của Cơ quan có thẩm quyền.

3. Về xử lý vật chứng, vật tiền liên quan đến việc phạm tội:

  • - Tịch thu, tiêu hủy đối với: 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá; 04 (bốn) cái ghế; 01 (một) cái bàn.

  • - Buộc bị cáo Lê Minh N nộp lại số tiền 224.000 đồng (Hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng), buộc bị cáo Lê Văn S nộp lại số tiền 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp lại 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước. Trường hợp các bị cáo N, S, Huế đã nộp lại đầy đủ các nghĩa vụ nộp tiền nêu trên và tiền án phí hình sự sơ thẩm thì:

    • + Trả lại cho bị cáo Lê Minh N 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 ProMax.

    • + Trả lại cho bị cáo S 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 ProMax.

    • + Trả lại cho bị cáo H (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax.

  • - Trả lại cho bị cáo H1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XsMax và số tiền 2.175.000 đồng (Hai triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 238/QĐ-VKSTPTĐ ngày 17/6/2024 và Phiếu nhập kho số NK24/337C ngày 24/6/2024, Giấy nộp tiền mặt ngày 19/06/2024).

4. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo rõ)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;

  • - Người tham gia tố tụng;

  • - Công an thành phố Thủ Đức;

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;

  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;

  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;

  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;

  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;

  • - Thi hành án hình sự;

  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 429/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 429/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger