|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 429/2023/HS-ST.
Ngày 25 - 8 - 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng.
Bà Vương Thị Khánh Loan.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 423/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 439/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Bùi Văn S, sinh năm 1976, tại tỉnh Hải Dương.
Nơi thường trú: Thôn T, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Minh Đ; sinh năm: 1949 và bà Hoàng Thị C; sinh năm: 1950; vợ Vũ Thị H, sinh năm 1983; có 02 con sinh năm 2016 và sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 17/6/2011 bị Tòa án nhân dân quận Đồng Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 30/5/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/4/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
2/ Họ và tên: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1988, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: 138/3, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D; sinh năm: 1968 và bà Bì Thị Thanh L1; sinh năm: 1967, vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1997 ; có 02 con, sinh năm 2008 và sinh năm 2019.
Tiền án; tiền sự: không.
Bị bắt tạm giữ ngày 01 tháng 4 năm 2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
· Bị hại: Liên hiệp hợp tác xã D2.
Trụ sở: Tòa nhà D, đường L, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thanh T1, sinh năm 1963 – Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn S và Nguyễn Thanh L có mối quan hệ bạn bè và đều là những đối tượng không có nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài, S và L rủ nhau trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 12 giờ ngày 01/02/2023, S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Attila (không rõ biển số) đến phòng trọ của L ở địa chỉ số A, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chơi, tại đây S rủ L đi đến Mỏ đá T 6 địa chỉ tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B thuộc Liên hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đ1 (D) để trộm cắp tài sản, L đồng ý. L điều khiển xe mô tô của S đi đến Mỏ đá T, S chỉ cho L các trạm biến áp và chỉ cho L trạm nào không có điện để cùng nhau lấy trộm tài sản, sau khi quan sát, S và L cùng nhau về phòng trọ của L.
Đến khoảng 01 giờ ngày 02 tháng 02 năm 2023, Bùi Văn S điều khiển xe mô tô Attila đến nhà Nguyễn Thanh L rồi cùng đi đến Mỏ đá T 6. Khi đi, S và L chuẩn bị 01 cây cần câu cá, dạng rút theo khúc, trên đầu có gắn móc quấn kín băng keo đen dài khoảng 30cm, tổng chiều dài cây cần câu cá và đầu móc dài khoảng 4,75 mét và 01 chiếc giỏ đồ màu đỏ, bên trong có: 06 cờ lê hai đầu khóa, 01 mỏ lết một đầu khóa, 01 kìm cắt cầm tay, 01 kìm cầm tay và 01 kìm kẹp. Khi đến khu vực mỏ đá, cả hai dựng xe mô tô bên kia sông B và đi vòng lên trạm biến áp thứ 3, L dùng cây cần câu cá có gắn móc ở đầu đã chuẩn bị giật được 02 cái cầu dao thì bị sẹt điện và móc bị hư nên không giật được cầu dao thứ 3. Sợ bị điện giật nên L và S không dám cắt dây điện mà đến trạm số 2 và 4 (không có điện) mở tủ điện ra để cắt
những đoạn dây điện nối các cầu giao nhỏ với nhau. Sinh và L lấy được tổng cộng 50 đoạn dây cáp điện đấu nối tụ bù, loại dây 25mm², chiều dài mỗi dây là 30cm, hai đầu của đoạn dây có gắn C1. Sau đó, L và S gom dây điện, thu dọn dụng cụ mang ra xe đi về đến điểm thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984, ở tổ F, khu phố C, phường L, thành phố B bán số dây điện vừa trộm cắp được với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), S chia cho L 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) rồi S và L về phòng trọ của L ngủ.
Đến khoảng 01 giờ ngày 03/02/2023, S tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà đón L, sau đó L điều khiển xe mô tô hiệu Attila của S chở S đến khu vực trạm biến thế của Mỏ đá T. Khi đi, S và L mang theo bộ dụng cụ của ngày hôm trước sử dụng để trộm cắp tài sản, do cây cần câu cá bị hư móc nên L làm 01 cái móc mới gắn vào đầu cây cần câu cá. Khi đến M đá, L dùng cây cần câu cá đã chuẩn bị giật cầu dao còn sót lại của trạm thứ 3 thì trạm ngắt điện hoàn toàn. L dùng cờ lê tháo các con ốc kết nối dây cáp điện với máy biến áp còn S sử dụng đèn điện thoại soi để mở ốc trong tủ điện kế bên trạm biến áp, khoảng 30 phút sau thì L và S tháo được 15 sợi dây cáp điện loại 240mm², mỗi dây dài 1,6m, 02 đầu dây có gắn Cos, tổng chiều dài số dây lấy trộm là 24m. Sau đó S để lại túi dụng cụ trong tủ điện rồi mang dây điện đã cắt được ra vị trí để xe mô tô, trên đường đi ra xe thì S bị trượt và làm rớt 03 sợi dây điện xuống sông B. Trên đường về, L điều khiển xe chở S ngồi sau, còn dây điện bỏ trong bao để đằng trước đi qua cầu Đ đến vựa mua bán phế liệu của anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1992 ở địa chỉ số B, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương bán số dây cáp điện vừa trộm cắp được với giá 1.800.000 đồng (Một tiệu tám trăm nghìn đồng), L chia cho S 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) rồi cả hai về phòng trọ của L để ngủ.
Khi về phòng trọ, L nói chuyện với H2 (không rõ nhân thân, lai lịch) và B (không rõ nhân thân, lai lịch) về việc L và S lấy trộm tài sản ở M đá Tân Cang 6 và có làm rớt dây điện dưới sông nên L, H2 và B đi 02 xe mô tô (không rõ biển số) đến Mỏ đá, khi đến nơi, L đứng coi xe, H2 và B qua khu vực trạm biến áp của mỏ đá để trộm cắp tài sản. Khoảng 30 phút sau, H2 và B ôm một bao tải đã cột dây phía đầu nên L không nhìn thấy tài sản bên trong. Sau đó, H2 và B điều khiển một xe mô tô đi về trước, L điều khiển xe mô tô về phòng trọ của L ngủ. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, H2 và B về phòng trọ của L và cho L 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, H2 và B điều khiển xe mô tô bỏ đi.
Đến khoảng 01 giờ ngày 04/02/2023, L tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Sinh từ phòng trọ của L đến Mỏ đá T, L dựng xe mô tô bên bờ sông, cả hai đi đến chỗ trạm biến áp tiếp tục lấy trộm dây điện. Khi L và anh S đến trạm biến áp hôm trước đã lấy trộm thì phát hiện túi đồ dụng cụ dùng để trộm cắp giấu trước đó bị mất nên S dùng tay tháo các sợi dây điện nhỏ ở các trạm điện số 02, 03 và 04 được 10 đoạn dây cáp điện đấu nối tụ bù, chiều dài mỗi đoạn 30cm, loại dây 25mm², hai đầu của đoạn dây có gắn C1. Tại trạm điện số 04, S tháo được 01 đoạn dây tiếp đất loại 25mm², dài 3m và tại trạm điện số 03, S tháo được 01 thanh đồng nguội có kích thước ngang 05cm, dài 42cm, dày 01cm. Tháo xong cả hai bỏ vào bao mang về chỗ bán phế liệu của anh Nguyễn Xuân Q bán được 600.000đồng (Sáu trăm nghìn đồng), cả hai chia đều mỗi người được 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Sau đó L về phòng trọ của L, còn S về phòng trọ của S ở khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tất cả số tiền có được S và L đã tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 31 tháng 3 năm 2023, S và L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B mời về trụ sở làm việc, tại đây, S và L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- Tạm giữ của ông Nguyễn Ngọc H1:
+ 01 đoạn ống nhựa VPC (ống nước), dài khoảng 05m, ông H1 thu tại khu vực xung quanh các trạm điện. Quá trình điều tra xác minh, đoạn ống nhựa không xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ điều tra xử lý sau;
+ 01 đầu móc, quấn kín băng keo đen, dài khoảng 30cm; 01 cây cần câu cá, dạng rút theo khúc, trên đầu có gắn móc quấn kín băng keo đen, tổng chiều dài cây cần câu cá và đầu móc dài khoảng 4,75 mét và 01 giỏ đồ màu đỏ, bên trong gồm có: 06 cờ lê hai đầu khóa, 01 mỏ lết một đầu khóa, 01 kìm cắt cầm tay, 01 kìm cầm tay và 01 kìm kẹp, S và L dùng vào việc phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 322/TCKH-HĐĐG ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: “01 bộ phụ kiện đấu nối, đã qua sử dụng, đang sử dụng bình thường, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 18 mét dây đấu nối tụ bù, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 24 mét cáp xuất; đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 01 thanh đồng nguội, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 03 mét dây tiếp đất, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; tổng giá trị định giá là 17.646.000 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Về dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Liên hiệp hợp tác xã D2 ông Nguyễn Ngọc H1 yêu cầu các bị cáo Bùi Văn S và Nguyễn Thanh L bồi thường số tiền 216.832.000 đồng (Hai trăm mười sáu triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 127/CT-VKSBH ngày 27/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Thanh L bồi thường cho bị hại của Liên hiệp hợp tác xã D2 theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy:
- - 01 đầu móc, quấn kín băng keo đen, dài khoảng 30cm.
- - 01 cây cần câu cá, dạng rút theo khúc, trên đầu có gắn móc quấn kín băng keo đen, tổng chiều dài cây cần câu cá và đầu móc dài khoảng 4,75 mét.
- - 01 giỏ đồ màu đỏ, bên trong gồm có: 06 cờ lê hai đầu khóa, 01 mỏ lết một đầu khóa, 01 kìm cắt cầm tay, 01 kìm cầm tay và 01 kìm kẹp.
Lời nói sau cùng của bị cáo Bùi Văn S: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thanh L: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào các ngày 02 tháng 02, 03 tháng 02 và ngày 04 tháng 02 năm 2023 tại Mỏ đá T 6 thuộc tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, các bị cáo Bùi Văn S và
Nguyễn Thanh L có hành vi trộm cắp 18m cáp điện đấu nối tụ bù loại 25mm²; 01 bộ phụ kiện đấu nối; 24m cáp xuất loại 240mm², 01 thanh đồng nguội và 03m dây tiếp đất loại 25mm² của Liên hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đ1 thì các bị cáo S và L bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 322/TCKH-HĐĐG ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: “01 bộ phụ kiện đấu nối, đã qua sử dụng, đang sử dụng bình thường, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 18 mét dây đấu nối tụ bù, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 24 mét cáp xuất; đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 01 thanh đồng nguội, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 03 mét dây tiếp đất, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; tổng giá trị định giá là 17.646.000 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo Bùi Văn S và Nguyễn Thanh L phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sở hữu tài sản của công dân. Nên cần có một mức án nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Bùi Văn S có nhân thân xấu ngày 17/6/2011 bị Tòa án nhân dân quận Đồng Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 30/5/2013.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình điều tra Liên hiệp hợp tác xã D2 yêu cầu các bị cáo Bùi Văn S và Nguyễn Thanh L bồi thường số tiền 216.832.000 đồng (Hai trăm mười sáu triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng). Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn S và Nguyễn Thanh L đồng ý bồi thường cho bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 322/TCKH-HĐĐG ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: “01 bộ phụ kiện đấu nối, đã qua sử dụng, đang sử dụng bình thường, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 18 mét dây đấu nối tụ bù, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 24 mét cáp xuất; đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 01 thanh đồng nguội, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; 03 mét dây tiếp đất, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại khoảng 80%; tổng giá trị định giá là 17.646.000đồng (Mười bảy triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Buộc bị cáo Bùi Văn S bồi thường cho bị hại Liên hiệp hợp tác xã D2 số tiền 8.823.000đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh L bồi thường cho bị hại Liên hiệp hợp tác xã D2 số tiền 8.823.000đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng).
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 đầu móc quấn băng keo màu đen dài khoảng 30cm.
- - 01 sào kim loại (dạng rút theo khúc) trên đầu có gắn móc quấn keo đen, tổng chiều dài của xào và móc là 4,75 mét.
- - 01 túi đồ đồ màu đỏ bằng nhựa bên trong gồm có: 06 cờ lê hai đầu khóa đã qua sử dụng; 01 mỏ lết một đầu khóa đã qua sử dụng; 01 kìm cắt cầm tay chuôi nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 kìm cầm tay chuôi nhựa màu đỏ đen đã qua sử dụng và 01 kìm kẹp đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Văn S phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 441.150đồng (Bốn trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thanh L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 441.150đồng (Bốn trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh L khai nhận ngày 03/02/2023 sau khi các bị cáo L và S trộm cắp tài sản ở M đá T, bị cáo L về phòng trọ của bị cáo L kể việc trộm cắp cho H2 và B nghe rồi bị cáo L dẫn H2 và B đến các trạm điện ở Mỏ đá T 6 để trộm cắp tài sản. Sau khi trộm cắp được tài sản, H2 và B đem đi bán và cho bị cáo L số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Hiện chưa làm việc
được với H2 và B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[9] Đối với chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân Q đã có hành vi mua tài sản do S và L trộm cắp. Khi mua, chị N và anh Q không biết tài sản trên do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với chị N và anh Q.
[10] Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Attila (không rõ biển số) các bị cáo S và L dùng vào việc phạm tội, bị cáo S khai đã bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2023.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Bùi Văn S bồi thường cho bị hại Liên hiệp hợp tác xã D2 số tiền 8.823.000đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh L bồi thường cho bị hại Liên hiệp hợp tác xã D2 số tiền 8.823.000đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 đầu móc quấn băng keo màu đen dài khoảng 30cm.
- - 01 sào kim loại (dạng rút theo khúc) trên đầu có gắn móc quấn keo đen, tổng chiều dài của xào và móc là 4,75 mét.
- - 01 túi đồ đồ màu đỏ bằng nhựa bên trong gồm có: 06 cờ lê hai đầu khóa đã qua sử dụng; 01 mỏ lết một đầu khóa đã qua sử dụng; 01 kìm cắt cầm tay chuôi nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 kìm cầm tay chuôi nhựa màu đỏ đen đã qua sử dụng và 01 kìm kẹp đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Văn S phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 441.150đồng (Bốn trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thanh L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 441.150đồng (Bốn trăm bốn mươi mốt nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Bản án số 429/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 429/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Sinh cùng đồng phạm
