Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 429/2025/HS-PT

Ngày: 17/10/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai;
Các Thẩm phán: Ông Ong Thân Thắng;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký viên.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Phạm Thị Minh Hải - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 17 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 309/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đối với bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Mua bán người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2025/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Thị L (Nguyễn Thị T), sinh năm 1975; nơi ĐKHKTT: Tổ E, phường Y, tỉnh Lào Cai (trước đây là tổ E, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái); nơi ở trước khi phạm tội: Thị trấn X, thành phố T, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Ngọc T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1953; sinh sống chung với anh Tàng Teo K như vợ chồng (tại Trung Quốc, không đăng ký kết hôn); có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân S, ông Hoàng Văn C, bà Đồng Thị T2, bà Nguyễn Thị M là các Luật sư thuộc Văn phòng L2 - Đoàn Luật sư thành phố H; bà M vắng mặt, ông S, ông C và bà T2 có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Quách Công Y và bị cáo Nguyễn Thị H không có kháng cáo, không bị kháng nghị; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 1990, Đỗ Thị L (tên gọi khác là T), sinh ngày 02/11/1976; HKTT: tổ E, phường Y, tỉnh Lào Cai (trước đây là tổ E phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái) sang Trung Quốc để làm thuê kiếm sống tại khu vực huyện T, thành phố T, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (thường gọi là Xì V, T, Q). Tại đây, L đã lấy chồng người Trung Quốc tên là K, nhưng không đăng ký kết hôn và đã có 05 người con. Đến năm 2009, thấy các cơ sở matxa và khách sạn khu vực mình sinh sống có các hoạt động mua bán dâm nên L đã này sinh ý định mua các phụ nữ đưa từ Việt Nam sang Trung Quốc, để bắt đi bán dâm nhằm hưởng lợi. Từ khoảng tháng 6/2009 đến tháng 8/2011, Đỗ Thị L đã câu kết mua của các đối tượng Đỗ Ngọc H1, Nguyễn Văn T3, Quách Công Y và Nguyễn Thị H tổng số 10 phụ nữ đưa từ Việt Nam sang thị trấn X, Trung Quốc để bắt họ phải đi bán dâm nhằm kiếm lời, cụ thể như sau:

Hành vi mua bán người của Đỗ Ngọc H1 với Đỗ Thị L.

Từ tháng 6/2009 đến tháng 8/2011, Đỗ Thị L và Đỗ Ngọc H1 đã thoả thuận gây ra 2 vụ mua bán phụ nữ cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng tháng 6/2009, thông qua chị Trần Thị L1, sinh năm 1991, trú tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Ngọc H1, sinh ngày 30/11/1976, trú tại tổ E, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái biết chị Trần Thị H2, sinh năm 1990, trú tại xóm M, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (chị họ của chị L1) có nhu cầu tìm việc làm. H1 đã rủ chị H2 sang Trung Quốc để làm việc tại xưởng gỗ, bán hàng cho công ty, lương tháng được 1.700 CNY (tệ) tương đương khoảng 05 triệu đồng tiền Việt Nam. Chị H2 tưởng thật đã đồng ý và cùng với H1 đi xe khách từ huyện N, tỉnh Ninh Bình đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Cùng đi với H1 và H2 là chị Trần Thị H3, sinh năm 1979, trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên là người đã sang nhà L nên tự nguyện đi cùng với H1. Sau đó, chị H2 và chị H3 đã cùng H1 đi đò vượt biên qua sông sang Trung Quốc. Khi sang đất Trung Quốc, chị H2, chị H3 được vợ chồng đối tượng H4 (người Việt Nam, hiện chưa xác định được) đón bằng xe ô tô đưa đến nhà Đỗ Thị L ở thị trấn X, thành phố T, tỉnh Quảng Đông. Tại đây, L nói với chị H2 là H1 đã bán chị H2 cho L với số tiền 4.000 CNY (Nhân dân tệ) tương đương với số tiền 9.918.400 Việt Nam đồng và chị H2 phải bán dâm để trả tiền cho L nếu không sẽ bị L bán cho chủ khác người Trung Quốc, không còn đường về Việt Nam nên chị H2 phải chấp nhận làm theo yêu cầu của L.

Hàng ngày, L bắt chị H2 đi bán dâm từ 12 giờ trưa đến đêm, trung bình mỗi ngày phải tiếp từ 6 đến 7 lượt khách mua dâm, mỗi khách mua dâm phải trả 100 CNY/lần, toàn bộ số tiền khách mua dâm trả, L đều giữ và quản lý. Đến tháng 12/2009, chị H2 được L cho về Việt Nam ăn tết với gia đình, L đã cho chị H2 một ít tiền và hứa vẫn giữ phần lớn tiền của chị H2 mục đích để chị H2 tiếp tục quay lại Trung Quốc. Đến tháng 2/2010, chị H2 lại sang nhà L cho đến cuối năm 2010, chị H2 lại xin về Việt Nam ăn tết và được L đưa cho 6.000 CNY (tệ), tương đương với số tiền 17.063.520 Việt Nam đồng. Sau khi về Việt Nam, chị H2 không sang Trung Quốc nữa và ngày 06/01/2012, chỉ H2 đã có đơn tố cáo hành vi phạm tội của Đỗ Ngọc H1 và Đỗ Thị L như trên và yêu cầu được bồi thường số tiền là 50 triệu đồng.

Vụ thứ hai:

Khoảng tháng 7/2011, chị Vũ Thị H5 (tức H12), sinh ngày 13/2/1976, trú tại phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh mở quán cà phê, tẩm quất tại khu vực L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Do có mối quan hệ quen biết nên Đỗ Ngọc H1 đã nói với chị H5 “sang Trung Quốc bán hàng tại khách sạn 5 sao cho chị gái của H1, nếu không thích thì lại về”. Tưởng thật, chị H5 đã đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 25/8/2011 H1 đưa chị H5 vượt biên bằng đò qua sông sang Trung Quốc rồi đi đến thị trấn X, thành phố T, tỉnh Quảng Đông bán cho Đỗ Thị L. Trước khi về H1 đã lừa bảo chị H5 viết giấy ứng tiền lương với L và ghi danh sách những người chị H5 còn nợ tiền để H1 cầm tiền mang về Việt Nam trả nợ hộ cho chị H5. Sau đó L đã trả cho H1 tiền mua chị H5 là 6.000 CNY (tệ) tương đương 19.348 800 Việt Nam đồng, ngoài ra L còn đưa thêm cho H1 500 CNY (tệ) để đi đường.

Từ ngày 25/8 đến ngày 04/9/2011, L đã bắt chị H5 đi bán dâm tại khách sạn “Hải Sể” và các cơ sở matxa ở thị trấn X, thành phố T. Đến đêm ngày 04/9/2011, lợi dụng sơ hở, chị H5 đã cùng với các chị Hà Ngọc D (tức D6), sinh ngày 24/7/1989, trú tại xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái và chị Nguyễn Thị H6, sinh năm 1986, trú tại xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình là những người cũng đang bị Lý bắt phải đi bán dâm đã bỏ trốn. Khi trốn thoát về Việt Nam, chị H5 đã viết đơn gửi Cơ quan CSĐT - Bộ C2 (C45) tố giác Đỗ Ngọc H1 đã lừa bán chị H5 và nhiều người sang Trung Quốc cho Đỗ Thị L để bắt làm gái mại dâm như trên.

Ngày 15/11/2011, Cơ quan CSĐT - Bộ C2 (C45) ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Ngọc H1 và Đỗ Thị L về tội Mua bán người theo Điều 119 BLHS năm 1999. Do Đỗ Thị L bỏ trốn, nên Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã và tạm đình chỉ điều tra bị can. Đối với Đỗ Ngọc H1, ngày 12/9/2012, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử, tuyên phạt 10 năm tù giam về tội Mua bán người, theo Điều 119 BLHS 1999 (Hài đã chấp hành xong hình phạt tù).

Hành vi mua bán 3 người phụ nữ để cưỡng ép làm gái bán dâm của Nguyễn Văn T3 và Đỗ Thị L.

Thông qua Hà Đình S1, sinh 02/8/1986, trú tại khu A, thị trấn Nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái (là em cùng mẹ khác cha với Đỗ Thị L) nên Nguyễn Văn T3 sinh năm 1987, trú ở cùng khu A thị trấn N biết L đã mua phụ nữ từ Việt Nam sang để ép buộc, bắt làm gái mại dâm tại thị trấn X, thành phố T, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Để có tiền sử dụng ăn tiêu, T3 đã thoả thuận với L là T3 sẽ lựa các phụ nữa đưa sang Trung Quốc bán cho Đỗ Thị L. Trong thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 10/2010 T3 lừa bán 03 phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán cho Đỗ Thị L để lấy tiền ăn tiêu cá nhân, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng đầu tháng 8/2010, thông qua quan hệ xã hội, T3 làm quen với chị Lý Thị T4, sinh ngày 11/11/1992, trú tại xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Để lừa bán chị T4 sang Trung Quốc, T3 nói dối rủ chị T4 đi bán hàng quần áo tại M, tỉnh Quảng Ninh. Tương thật chị T5 đồng ý cùng với T3 đi xe khách từ Văn C1, Yên Bái đến M, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến khu vực bến đò giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc, T3 lừa báo chị T4 lên đò sang Trung Quốc trước, T3 đi sau. Chi T4 tưởng thật lên đò sang bên kia biên giới sau đó được người của L đến đón đưa về nhà L tại thị trấn X, Trung Quốc. Còn T3 ngồi lại chờ, một lúc sau người lái đò (hiện chưa xác định được) quay lại đưa cho T3 4,000 CNY (tệ) tương đương 10.950.440 VNĐ, nói là tiền Đỗ Thị L trả cho T3 từ việc mua chị T4.

Sau khi bị lừa bán, chị T4 bị L bắt ép đi bán dâm, nếu không sẽ bị đánh đập nên hàng ngày chị T4 buộc phải bán dâm theo sự giám sát, sắp đặt của L. Đến tháng 4/2012 chị T4 xin về Việt Nam, L đã đưa cho chị T4 10 triệu đồng và 01 nhẫn vàng, quy đổi được là 16 triệu đồng. Chị T4 đã về ở lại nhà không sang nữa. Theo chị T4 đã bị L thu giữ tổng cộng 200 triệu là tiền do bán dâm mà có, chị T4 yêu cầu được bồi thường số tiền 200 triệu đồng.

Vụ thứ hai.

Khoảng tháng 4/2010, khi chị Hà Ngọc D (tức D6) chăm sóc bố ốm tại Bệnh viện huyện V, tỉnh Yên Bái có quen biết Nguyễn Văn T3. Do có ý định lừa bán chị D sang Trung Quốc cho L nên T3 đã lấy tên giả là H7 khi làm quen với chị D. Sau khi đã tạo được lòng tin, T3 hỏi lừa chị D có muốn sang Q, Trung Quốc bán quần áo cho chị gái T3 không, chị D hẹn sẽ suy nghĩ rồi trả lời sau. Sau khi bố chị D ra viện được khoảng 2 đến 3 ngày thì T3 đã gọi điện thoại cho chị D1 hỏi đã quyết định sang Trung Quốc bán quần áo chưa, chị D đồng ý. Sau đó, T3 đón chị D1 đi xe khách từ Đ, huyện V xuống Hà Nội rồi đi tiếp xe khách đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Khi đến bến xe khách Móng Cái. T3 và chị D1 được Đỗ Thị L đón đưa qua phà sang bến xe Đ, Trung Quốc rồi đi tiếp xe khách về nhà L ở thị trấn X. T3 ở lại nhà Đỗ Thị L một đêm đến hôm sau thì về Việt Nam và L đã trả cho 3.000 CNY (tệ) tương đương với 8.150.010 Việt Nam đồng.

Chị D bị giữ lại nhà của L. Từ đây Lý bắt chị D bán dâm cho khách và đe dọa nếu không sẽ chết. Do sợ nên chị D đã làm theo yêu cầu của L. Hàng ngày chị D phải cùng các chị Dương Thị T6 (bị hại cùng vụ án), chị Vũ Thị H8 (tên gọi khác là H12), chị Nguyễn Thị H6, chị Đinh Thị Phương H9 (tức T7) đều là bị hại cùng vụ án phải đi bán dâm tại khách sạn “Hải Sể” cách nhà L khoảng 300m. Trung bình mỗi ngày L bắt chị D phải thực hiện khoảng 6 lượt bán dâm cho khách, mỗi tháng đi bán dâm khoảng 26 ngày, giá bán dâm là 100 CNY (tệ)/lần. Số tiền thu được đều bị L giữ lại. Đến đêm ngày 04/9/2011, lợi dụng sơ hở, chị D đã cùng với các chị Vũ Thị H5 (H12) và chị Nguyễn Thị H6 bỏ trốn. Sau khi trốn thoát về Việt Nam chị D đã đến Công an tỉnh Y trình báo tố giác hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T3 và Đỗ Thị L như nêu trên. Hiện chị D (D6) có yêu cầu L phải bồi thường số tiền tổn thất tinh thần và tiền L đã giữ của chị tổng cộng là 500 triệu đồng.

Vụ thứ ba:

Để lừa chị Dương Thùy D2, sinh 09/8/1983, trú tại tổ A phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái sang Trung Quốc bán cho Đỗ Thị L, khoảng tháng 10/2010 Nguyễn Văn T3 rủ chị D2 xuống Hà Nội chơi, chị D2 tưởng thật đồng ý. Ngày hôm sau, T3 đón chị D2 đi xe khách từ Yên Bái xuống Hà Nội, sau đó xuống M, tỉnh Quảng Ninh rồi lại rủ tiếp chị D2 sang Trung Quốc chơi, chị D2 tin tưởng nên đã đồng ý. Khi đến bến đò giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc, T3 bảo chị D2 cứ lên đò sang trước, còn T3 sẽ sang sau, chị D2 đã xuống đò qua biên giới sang Trung Quốc và được một người thanh niên đón về nhà Đỗ Thị L tại thị trấn X. Còn T3 ngồi đợi ở bến đò một lúc thì được một người không quen biết đến đưa cho 2.700 CNY (tệ) tương đương với 7.638.543 đồng, nói là tiền Lý trả cho T3 đề mua D2.

Từ tháng 10/2010 đến 03/11/2011, chị D2 bị L bắt ép làm các việc vặt trong nhà của L, trong thời gian ở nhà L, chị D2 chứng kiến có 04 phụ nữ là các chị Hà Ngọc D (Diệp), chị Lý Thị T4, sinh 1992, trú ở M, V, Yên Bái và hai người phụ nữ không biết tên bị Lý É đi bán dâm cho khách hàng ngày tại thị trấn X, Trung Quốc. Hiện Chị D2 không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Hành vi mua bán 4 người phụ nữ để cưỡng ép làm gái bán dâm của Đỗ Thị L và Quách Công Y

Do có quan hệ xã hội từ trước, khoảng tháng 2/2010, Quách Công Y cùng bạn gái là chị Trần Thị H3, sinh năm 1979, HKTT: tổ A phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên sang nhà Đỗ Thị L tại thị trấn X chơi. Tại đây, L đã bảo Y về Việt Nam tìm đưa các phụ nữ sang đề L bắt đi bán dâm. Từ tháng 3/2010 đến tháng 10/2010, Đỗ Thị L đã thực hiện hành vi mua bán 4 người phụ nữ với Quách Công Y cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Thông qua chị Trần Thị H3 nên Y quen biết chị Hoàng Thị Hồng D3, sinh 04/8/1989 và chị Trần Thị H10, sinh 08/4/1986, đều trú tại Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Khoảng tháng 3/2010, chị D3 và chị H10 đi xe máy từ Y đến xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình gặp Quách Công Y. Tại đây, Y đã nói lừa rủ chị D3 và chị H10 sang Trung Quốc chơi nếu muốn ở lại làm việc thì Y sẽ xin cho làm việc trong công ty về may mặc, nếu đồng ý thì đi luôn, chị D3 và chị H10 tưởng thật nên đã đồng ý. Khoảng 4 giờ sáng ngày hôm sau, Y đưa chị D3 và chị H10 đi xe khách từ Ninh Bình đi ra M, Quảng Ninh, rồi qua đò sang bên kia biên giới Trung Quốc thì được vợ chồng đối tượng H4 (hiện chưa xác định được) và chồng của Đỗ Thị L đón bằng xe ô tô đưa về nhà L. Sau khoảng 10 ngày thì Y về Việt Nam, còn hai chị D3 và H10 ở lại nhà L, hàng ngày bị L bắt ép hai chị đi bán dâm tại các khách sạn ở thị trấn X. Toàn bộ số tiền thu được do bán dâm đều bị Lý giữ. Ở nhà L được khoảng 01 tháng do sức khỏe yếu nên L cho chị H10 về Việt Nam. Đến ngày 05/01/2012 chị H10 tố giác toàn bộ hành vi phạm tội của Đỗ Thị L và Quách Công Y và yêu cầu được bồi thường số tiền 30 triệu đồng. Còn chị Hoàng Thị Hồng D3 bị L bắt đi bán dâm khoảng 02 tháng đến cuối tháng 5/2010 chị D3 được L cho về Việt Nam. Khi chị D3 về, L đã đưa cho chị D3 1.000 CNY (tệ). Ngày 28/2/2012, chị D3 tố giác hành vi phạm tội của Y và L như trên và yêu cầu được bồi thường số tiền 30 triệu đồng.

Vụ thứ hai:

Đầu năm 2010, thông qua chị Trần Thị H10 (là bị hại nêu trên), Quách Công Y quen biết với chị Đinh Thị Phương H11 (Tít), sinh 07/10/1991, trú tại xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng tháng 4/2010, Y đã nói lừa, rủ chị H9 đi làm công ty ở Quảng Ninh sẽ được trả lương cao từ 06 đến 08 triệu/tháng. Tường thật, chị H11 đồng ý và đi cùng Y từ N đến M, Quảng Ninh. Khi đi đến M, Y nói với chỉ H11 ở đây chỉ là cửa hàng, còn công ty làm việc ở bên Trung Quốc nên phải đi đò sang Trung Quốc. Chị H9 tin tưởng nên đi cùng Y qua đò sang Trung Quốc. Sau đó, vợ chồng đối tượng H4 (hiện chưa xác định được) đón chị H9 về nhà Đỗ Thị L tại thị trấn X. Y ở lại nhà L 02 hôm thì quay về Việt Nam. Còn chị H11 thời gian đầu được L giao cho làm nội trợ sau đó, L yêu cầu chị H9 phải đi bán dâm, chị H9 không đồng ý thì L nói đã mua chị từ Y, nếu không nghe L sẽ bán chị cho chủ khác người Trung Quốc và sẽ bị họ hành hạ đánh đập nên chị H11 sợ phải chấp nhận đi bán dâm cho khách theo yêu cầu của L. Tất cả tiền thu được do bán dâm đều bị L thu giữ. Sau khoảng 7 tháng, chị H11 bảo L là ở Việt Nam chị H9 có nhiều bạn gái trẻ và ngoan có thể đưa sang Trung Quốc cho L để tiếp khách mua dâm, L đồng ý. Khoảng tháng 12/2010, chị H9 được L cho về Việt Nam. Do lo sợ bị Y tìm bắt đưa sang Trung Quốc cho L nên chị H9 không dám về nhà mà đi làm tự do nhiều nơi. Đến ngày 29/12/2012, khi được Cơ quan điều tra triệu tập làm việc thì chị H9 đã khai báo, tố cáo hành vi phạm tội của Y và L. Đồng thời yêu cầu L bồi thường số tiền 40 triệu đồng

Vụ thứ ba:

Khoảng tháng 6/2010, Quách Công Y sau khi quen biết, tạo lòng tin với chị Dương Thị T6, sinh 15/3/1981, trú tại T, huyện K, tỉnh Hòa Bình, Y nói lừa chị Tó đi sang Trung Quốc bán hàng, lương tháng từ 07 đến 08 triệu đồng, nếu không thích thì lại về Việt Nam. Tưởng thật, chị T6 đồng ý. Sau đó, Y đã đưa chị T6 đi xe khách từ N, Ninh Bình đến M, Quảng Ninh và sau đó vượt biên qua sông sang Trung Quốc thì được đối tượng H4 (hiện chưa xác định được) đón đưa về nhà Đỗ Thị L tại thị trấn X. Y ở lại nhà L hai ngày thì quay về Việt Nam, còn chị T6 ở lại bị L đe dọa bắt đi bán dâm, nếu không sẽ không cho tiền để không còn cơ hội về Việt Nam nên buộc chị Tó phải đồng ý và hàng ngày đã đi bán dâm cho khách, số tiền thu được L đã giữ hết. Đến tháng 12/2010, chị T6 nói dối L xin về Việt Nam ăn tết rồi lại sang, L đồng ý và đưa cho chị T6 3.000 CNY (tệ) tương đương với 8.527.920 đồng. Sau khi về được Việt Nam, chị T6 đã không quay lại nữa. Đến ngày 21/12/2024, khi được Cơ quan điều tra triệu tập làm việc thì chị T6 đã khai báo và tố cáo hành vi phạm tội của Quách Công Y và Đỗ Thị L như trên và yêu cầu L bồi thường số tiền 50 triệu đồng.

Quá trình điều tra, Quách Công Y đã tác động gia đình tự nguyện nộp số tiền 10 triệu đồng để bồi thường cho các bị hại

Hành vi mua bán chị Nguyễn Thị H6 để ép làm mại dâm của Đỗ Thị L và Nguyễn Thị H.

Nguyễn Thị H và Đỗ Ngọc H1 có quan hệ tình cảm yêu đương. Khoảng đầu năm 2011, khi cùng H1 sang nhà Đỗ Thị L ở thị trấn X, Trung Quốc chơi thì H biết L có tổ chức hoạt động mại dâm, H này sinh ý định về Việt Nam tìm phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán cho L lấy tiền ăn tiêu. Khoảng tháng 8/2011, thông qua mối quan hệ quen biết, H biết chị Nguyễn Thị H6 có nhu cầu tìm việc làm. H đã nói lừa, bảo chị H6 làm hộ chiếu để cùng H đi du lịch Singapore trong thời gian 01 tháng. Sau khi chị H6 làm xong hộ chiếu, H nói không đi du lịch bên Singapore được mà đi Trung Quốc, chị H6 cũng đồng ý. H đưa chị H6 đi làm visa và bỏ ra 2,8 triệu đồng lệ phí làm visa cho H và chị H6. Ngày 02/9/2011, chị M1 và chị H6 đi từ Hải Dương lên Hà Nội gặp H. Tại đây, H trả cho chị M1 02 triệu đồng tiền xe đi lại. Đến tối cùng ngày 02/9/2011, H và chị H6 đi xe khách từ M đến khoảng 5 giờ sáng ngày 03/9/2011 thi đến M, Quảng Ninh. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03/9/2011, H và chị H6 xuất cảnh qua cửa khẩu M2 sang Trung Quốc. Khi sang Trung Quốc, H gọi điện nhờ Đỗ Ngọc H1 gọi giúp taxi để đưa H và chị H6 đến nhà Đỗ Thị L. Khi đến nơi, H được L trả 4.000 CNY (tệ) tương đương với 12.934 520 đồng. Ngày hôm sau H quay về Việt Nam. Ngày 04/9/2011, chị H6 bị L ép đưa đến một khách sạn tại thị trấn X để bán dâm. Đến gần sáng ngày 05/9/2011, chị H6 đã cùng với các chị Vũ Thị H5 và Hà Ngọc D (Diệp) bỏ trốn thoát về Việt Nam. Đến ngày 09/11/2011, chị H6 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ C2 (C45) tố giác hành vi phạm tội của Nguyễn Thị H, Đỗ Thị L như trên và yêu cầu được bồi thường số tiền 30 triệu đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H đã tự nguyện giao nộp số tiền 13 triệu đồng là tiền bán chị Nguyễn Thị H6 cho Đỗ Thị L và bị cáo Quách Công Y đã tác động gia đình nộp thay bị cáo 10 triệu đồng để bồi thường cho các bị hại.

Sau khi gây án, Đỗ Thị L bỏ trốn không về Việt Nam. Đến ngày 06/12/2024, Đỗ Thị L bị bắt theo lệnh truy nã. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai báo quanh co, không khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm nhưng căn cứ vào lời khai của các đồng phạm, lời khai của các bị hại, các nhân chứng trực tiếp và các chứng cứ khác đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã có đủ chứng cứ quy kết Đỗ Thị L đã cùng đồng phạm thực hiện mua bán 10 người phụ nữ sau đó bắt ép họ bán đâm cho khách tại thị trấn X, T, Q, Trung Quốc nhằm thu lợi bất chính.

Đối với vật chứng đã thu giữ trong vụ án gồm: 01 (Một) điện thoại màu đen, nhãn hiệu Vivo, I (khe cắm thẻ SIM 1) 865717060915041, Imei (khe cắm thẻ SIM 2) 865717060915058, đã qua sử dụng, tiền Ngân hàng N2 23 triệu đồng, Cơ quan điều tra đã thống kê kèm theo hồ sơ vụ án và chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với bị cáo Đỗ Thị L, trong quá trình giải quyết vụ án. Ngày 15/11/2011 Cơ quan CSĐT Bộ C2 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 257; ngày 07/5/2012 Cơ quan CSĐT Bộ C2 ra Quyết định khởi tố bị can số 77; ngày 06/7/2012 Cơ quan CSĐT Bộ C2 ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can số 140; ngày 15/12/2024 Cơ quan CSĐT Bộ C2 ra Quyết định phục hồi điều tra bị can số 3129.

Tại bản Cáo trạng số 7100/CT-VKSTC-V2 ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Lý về tội “Mua bán người” theo các điểm a, đ, e, g khoản 2 Điều 119 BLHS 1999; bị cáo Quách Công Y về tội “Mua bán người” theo các điểm d, đ, e khoản 2 Điều 150 BLHS 2015; bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán người” theo điểm d khoản 2 Điều 150 BLHS 2015 và phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với vụ án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm 102/2025/HS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Mua bán người”.

- Căn cứ điểm a, đ, e, g khoản 2, khoản 3 Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015: xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 06/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo L 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Quách Công Y, Nguyễn Thị H; về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp; về án phí sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/8/2025, bị cáo Đỗ Thị L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Đỗ Thị L giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt và bổ sung nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm mức bồi thường cho các bị hại;

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng việc xử lý bị cáo L về hành vi mua bán 04 người cùng với T3 là có cơ sở. Tuy nhiên, đối với hành vi mua bán 06 người do Đỗ Ngọc H1 và Quách Công Y đưa từ Việt Nam sang Trung Quốc thì chứng cứ có trong hồ sơ chưa rõ. Ngoài lời khai của bị hại thì không có chứng cứ vật chất nào chứng minh bị cáo L trả tiền cho Y và H1 khi nhận người. Do đó, chưa có căn cứ rõ ràng về tội mua bán 6 người này. Hành vi này của bị cáo có thể cấu thành một tội khác liên quan đến môi giới mại dâm. Việc xét xử bị cáo Đỗ Thị L về hành vi mua bán 10 người là không chính xác.

Mặt khác, Tòa án sơ thẩm chưa xem xét đánh giá về hoàn cảnh bị cáo Đỗ Thị L đã không cư trú tại Việt Nam từ lâu nên nhận thức về pháp luật Việt Nam còn hạn chế, các bị hại đều tự nguyện đi bán dâm và gửi tiền nhờ bị cáo giữ hộ và bị cáo đã tích cực nhờ gia đình khắc phục hậu quả.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo Đỗ Thị L và xem xét giảm mức bồi thường cho các bị hại. Đồng thời, các luật sư cung cấp Giấy vay tiền, Bản cam kết, Giấy công nhận, Giấy giao nhận tiền, Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của Hoàng Thị Hồng D3, đều viết tay không có xác nhận, chứng thực chữ ký, chữ viết của cơ quan có thẩm quyền.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội có ý kiến:

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị L bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm mức bồi thường cho các bị hại. Nội dung bổ sung kháng cáo của bị cáo là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu. Mặt khác, Bản án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bị cáo L và các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về trách nhiệm dân sự và phần thỏa thuận này đã có hiệu lực pháp luật. Đối với các bị hại không có yêu cầu bồi thường hoặc chưa cung cấp được đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì Tòa án sơ thẩm không đề cập giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận xem xét nội dung bổ sung kháng cáo của bị cáo theo thủ tục phúc thẩm.

Về kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đỗ Thị L: Căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ thấy có đủ cơ sở xác định bị cáo Đỗ Thị L đã thực hiện hành vi mua bán 10 người là chính xác. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án, Tòa án sơ thẩm áp dụng điểm a, đ, e, g khoản 2, khoản 3 Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 17 (Mười bảy) năm tù và phạt bổ sung bị cáo L 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nào đáng kể có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của của bị hại, lời khai của bị cáo; quan điểm của Luật sư, Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/8/2025 bị cáo Đỗ Thị L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Xét kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị L bổ sung nội dung kháng cáo đề nghị xem xét giảm mức bồi thường cho các bị hại. Xét nội dung bổ sung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu. Mặt khác, Bản án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bị cáo L và các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về trách nhiệm dân sự và thỏa thuận của các đương sự đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận xem xét nội dung bổ sung kháng cáo của bị cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Bản án sơ thẩm xác định trong khoảng thời gian từ tháng 6/2009 đến tháng 9/2011, Đỗ Ngọc H1, Nguyễn Văn T3, Quách Công Y và Nguyễn Thị H thực hiện hành vi lừa dối các chị Trần Thị H2, Vũ Thị H5, Hà Ngọc D4, Lý Thị T4, Dương Thù D5, Nguyễn Thị H6, Hoàng Thị Hồng D3, Trần Thị H10, Đinh Thị Phương H11, Dương Thị Thanh từ Việt N1 sang khu vực thị trấn X, thành phố T, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc làm việc trong khách sạn hoặc bán hàng cho người thân là Đỗ Thị L nhưng khi sang Trung Quốc, H1, T3, Y, H đã bán các bị hại cho Đỗ Thị L và bị vợ chồng L ép buộc họ bán dâm nhằm hưởng lợi bất chính.

[4] Bị cáo Đỗ Thị L và các Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng không có chứng cứ vật chất nào chứng minh bị cáo L trả tiền cho do Đỗ Ngọc H1 và Quách Công Y khi nhận người nên không cấu thành hành vi mua bán 06 người do H1 và Y đưa sang Trung Quốc.

[5] Xét thấy:

[5.1] Mặc dù không thừa nhận mua bán các bị hại Trần Thị H2, Vũ Thị H5, Hoàng Thị Hồng D3, Trần Thị H10, Đinh Thị Phương H11, Dương Thị T6 do Đỗ Ngọc H1 và Quách Ngọc Y1 đã lừa dối đưa sang Trung Quốc nhưng bị cáo Đỗ Thị L thừa nhận năm 2009, khi Đỗ Ngọc H1 đưa chị H2 và chị H5 từ Việt Nam sang Trung Quốc, L đã tiếp nhận 02 chị và thỏa thuận ăn chia với H1 về số tiền mà chị H2, chị H5 có được từ hành vi bán dâm. Tương tự, năm 2010, Quách Ngọc Y1 đã lừa dối các bị hại gồm Hoàng Thị Hồng D3, Trần Thị H10, Đinh Thị Phương H11, Dương Thị Thanh từ Việt Nam sang Trung Quốc, L đã tiếp nhận các bị hại và tổ chức cho những người này bán dâm; Y1 được Lý chi trả tiền ăn, ở, đi lại trong thời gian ở tại Trung Quốc và thỏa thuận sẽ ăn chia trên số tiền thu được từ việc bán dâm của các bị hại do Y1 đưa sang. Quá trình quản lý các bị hại, Đỗ Thị L cùng chồng đã canh gác, đánh đập ép buộc các bị hại bán dâm và quản lý tiền được khách trả từ hoạt động bán dâm của họ.

[5.2] Việc L tiếp nhận các bị hại, thuê nhà cho các bị hại ăn, ở để bố trí cho các bị hại bán dâm, quản lý tiền bán dâm của các bị hại, giam giữ, đánh đập khi các bị hại bướng bỉnh hoặc có ý bỏ trốn; thỏa thuận sẽ ăn chia trên số tiền thu được từ việc bán dâm của các bị hại do Đỗ Ngọc H1 và Quách Công Y đưa sang; chi trả tiền ăn, ở cho Y trong thời gian ở Trung Quốc là thủ đoạn khác và các lợi ích vật chất mà L trả cho H1 và Y để mua bán người quy định tại Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tòa án sơ thẩm kết luận từ khoảng tháng 6/2009 đến tháng 8/2011, Đỗ Thị L đã cấu kết mua của các đối tượng Đỗ Ngọc H1, Nguyễn Văn T3, Quách Công Y và Nguyễn Thị H tổng số 10 phụ nữ đưa từ Việt Nam sang thị trấn X, Trung Quốc để bắt họ phải bán dâm nhằm thu lợi bất chính là có căn cứ.

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo L cùng các đồng phạm thực hiện trong các năm 2009, 2010 và 2011 nên tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 hoặc có thể bị xử lý theo Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên, việc vận dụng Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có lợi hơn đối với bị cáo vì có khung hình phạt nhẹ hơn. Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Thị L về tội “Mua bán người” theo điểm a - Vì mục đích mại dâm, điểm đ - Để đưa ra nước ngoài, điểm e - Đối với nhiều người, điểm g - Phạm tội nhiều lần - thuộc khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[7] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đỗ Thị L:

[7.1] Bị cáo bị truy tố, xét xử theo các điểm a, đ, e, g khoản 2 Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 20 năm. Tòa án sơ thẩm đã xem xét phân hóa vai trò, nhân thân và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo khi lượng hình. Theo đó, bị cáo L là người trả tiền, vật chất khác cho các đồng phạm để mua bán 10 người và ép họ bán dâm nhằm hưởng lợi bất chính nên có vai trò cao hơn các bị cáo khác là có cơ sở. Tòa án sơ thẩm xét bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự; mặc dù quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo L không thừa nhận mua bán người đối với 06 bị hại nhưng đã thành khẩn khai báo hành vi của mình và thừa nhận mua bán người đối với 04 bị hại để vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 17 (Mười bảy) năm tù và P bổ sung bị cáo L 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

[7.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các luật sư cung cấp Giấy vay tiền ký tên Vũ Thị H12, Bản cam kết ký tên Hà Ngọc D6, Giấy công nhận ký tên Hà Văn P1, Giấy giao nhận tiền và Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của Hoàng Thị Hồng D3 nhưng đều là văn bản viết tay không có xác nhận, chứng thực chữ ký, chữ viết của cơ quan có thẩm quyền nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở xem xét. Bị cáo Đỗ Thị L không có tình tiết giảm nhẹ mới nào đáng kể có thể làm thay đổi bản chất của vụ án nên kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thị L tại Bản án hình sự sơ thẩm.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp

[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đỗ Thị L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đỗ Thị L; giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thị L tại Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2025/HS- ST ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh như sau:

1.1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Mua bán người”.

1.2. Căn cứ điểm a, đ, e, g khoản 2, khoản 3 Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 06/12/2024. Phạt bổ sung bị cáo L 30.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thị L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Thị Bích Hải Lê Thị Mai
Ong Thân Thắng

Nơi nhận:

  • - Vụ 1-TANDTC;
  • - Viện phúc thẩm 1 - VKSNDTC;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1 – CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo (qua trại);
  • - Lưu HSVA, VPTA, TP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 429/2025/HS-PT ngày 17/10/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "mua bán người"

  • Số bản án: 429/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Mua bán người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị L phạm tội "Mua bán người"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger