Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 429/2024/DS-ST

Ngày: 18/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Nguyễn Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
  2. Bà Phạm Thị Phương Dung

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Toà án nhân dân Quận 1.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân Quận 1, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7603/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 9841/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X

    Địa chỉ: Tầng H V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vũ Hải Đ, sinh năm 1988 hoặc ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1997

    Địa chỉ: số C - C N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Giấy ủy quyền số 256/2024/EIB/UQ-TGĐ ngày 14/5/2024).

  2. Bị đơn:
    • - Ông Trương Thái H, sinh năm 1992

      Địa chỉ: xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

    • - Bà Trần Thị Ngọc H1, sinh năm 1993

      Địa chỉ: xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X là ông Nguyễn Trung T có mặt. Bị đơn ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, Ngân hàng Thương mại cổ phần X có ông Nguyễn Trung T là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng X) và ông Trương Thái H, bà Trần Thị Ngọc H1 ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022. Theo đó, Ngân hàng X cho ông H và bà H1 vay số tiền 7.500.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền nhận chuyển nhượng bất động sản.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng X đã giải ngân và ông H và bà H1 đã nhận nợ theo Khế ước nhận nợ số 2212-LDS-220000120 ngày 31/5/2022, cụ thể:

  • Số tiền vay: 7.500.000.000 đồng;
  • Thời hạn vay: 336 tháng, kể từ ngày 31/5/2022 đến ngày 31/5/2025;
  • Kỳ hạn trả nợ gốc: Nợ gốc được trả thành nhiều kỳ, mỗi kỳ cách nhau 01 tháng. Số tiền được trả mỗi kỳ là 22.322.000 đồng. Kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 30/6/2022, kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 31/5/2025, vào kỳ trả nợ gốc cuối cùng, khách hàng phải trả hết nợ gốc còn lại của khoản vay.
  • Kỳ hạn trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 30. Kỳ đầu tiên trả nợ lãi là ngày 30/6/2022, kỳ trả nợ lãi cuối cùng là ngày 31/5/2050.
  • Lãi suất cho vay: 10,99%/năm (lãi suất cho vay là 10,99%/năm được cố định trong 12 tháng đầu tiên. Sau đó sẽ được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần và bằng lãi suất cơ sở + 2,5%/năm).
  • Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
  • Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả: 10%/năm.

Ngày 07/6/2022, Ngân hàng X và ông Trương Thái H đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng. Căn cứ Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế - các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng X đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế Visa Gold cho ông Trương Thái H với hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng.

Để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nêu trên, ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 38/2022/EIB-TĐ/TCTS ngày 08/6/2022, số công chứng 1148, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD, lập tại Phòng C, tỉnh Bình Dương; Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương ngày 08/6/2022; Giấy cam kết của ông H và bà H1 về việc dùng tài sản bảo đảm đang thế chấp tại Ngân hàng X để đảm bảo cho hạn mức thẻ tín dụng ngày 31/5/2022. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC950548 và số DC950650, số vào sổ cấp GCN: CS23201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/01/2022, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trương Thái H ngày 02/6/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 đã thanh toán được 724.341.725 đồng (gồm nợ gốc: 178.576.033 và lãi 545.765.692 đồng). Ông H và bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ từ ngày 30/01/2023, Ngân hàng X nhiều lần liên hệ nhưng ông H và bà H1 vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Tính đến hết ngày 18/7/2024, ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 còn nợ Ngân hàng X tổng cộng là 8.852.831.807 đồng, cụ thể như sau:

  • Nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 là 8.712.041.351 đồng, trong đó: nợ gốc: 7.321.423.967 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.255.197.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 48.548.544 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 86.871.079 đồng.
  • Nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 140.790.456 đồng, trong đó: số tiền sử dụng 95.125.125 đồng, nợ lãi 45.665.331 đồng.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc:

  • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 và khế ước nhận nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 8.712.041.351 đồng (trong đó: nợ gốc: 7.321.423.967 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.255.197.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 48.548.544 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 86.871.079 đồng).
  • Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ.
  • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ đối với hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/6/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 140.790.456 đồng (trong đó: nợ gốc 95.125.125 đồng, nợ lãi 45.665.331 đồng).
  • Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
  • Trường hợp ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC950548 và số DC950650, số vào sổ cấp GCN: CS23201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/01/2022, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trương Thái H ngày 02/6/2022.
  • Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng X đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng và yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.

* Bị đơn ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Tòa án đã thực hiện việc đăng thông tin về việc thông báo thụ lý vụ án; triệu tập tham gia chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; xét xử vụ án trên phương tiện thông tin đại chúng.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Ngân hàng Thương mại cổ phần X và ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 và Khế ước nhận nợ số 2212-LDS-220000120 ngày 31/5/2022, theo đó Ngân hàng X cho ông H và bà H1 vay số tiền là 7.500.000.000 đồng. Ngày 07/6/2022, Ngân hàng X và ông Trương Thái H đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng. Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trên, Ngân hàng X đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế Visa Gold cho ông Trương Thái H.

Tài sản bảo đảm cho hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nêu trên là quyền sử dụng đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC950548 và số DC950650, số vào sổ cấp GCN: CS23201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/01/2022, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trương Thái H ngày 02/6/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, ông H và bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng X đã chuyển toàn bộ khoản nợ sang nợ quá hạn. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X có đơn lựa chọn thẩm quyền Tòa án giải quyết vụ án là nơi hợp đồng được thực hiện (nơi ký kết, giải ngân tiền vay) tại Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh S; Địa chỉ: Tầng trệt + lửng, Tòa nhà H H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các bị đơn.
  3. Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần X (sau đây gọi tắt là Ngân hàng X) và ông Trương Thái H, bà Trần Thị Ngọc H1 ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022; Mục đích vay: Thanh toán tiền nhận chuyển nhượng bất động sản.
  4. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng X đã giải ngân và ông H và bà H1 đã nhận nợ theo Khế ước nhận nợ số 2212-LDS-220000120 ngày 31/5/2022, cụ thể: Số tiền vay: 7.500.000.000 đồng; Thời hạn vay: 336 tháng, kể từ ngày 31/5/2022 đến ngày 31/5/2025; Kỳ hạn trả nợ gốc: Nợ gốc được trả thành nhiều kỳ, mỗi kỳ cách nhau 01 tháng, số tiền được trả mỗi kỳ là 22.322.000 đồng, kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 30/6/2022, kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 31/5/2025, vào kỳ trả nợ gốc cuối cùng, khách hàng phải trả hết nợ gốc còn lại của khoản vay; Kỳ hạn trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 30, kỳ đầu tiên trả nợ lãi là ngày 30/6/2022, kỳ trả nợ lãi cuối cùng là ngày 31/5/2050; Lãi suất cho vay: 10,99%/năm (lãi suất cho vay là 10,99%/năm được cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó sẽ được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần và bằng lãi suất cơ sở + 2,5%/năm); Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả: 10%/năm.
  5. Ngày 07/6/2022, Ngân hàng X và ông Trương Thái H đã ký Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng. Căn cứ Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế - các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng X đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế Visa Gold cho ông Trương Thái H với hạn mức 100.000.000 đồng.
  6. Như vậy, hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được hai bên tự nguyện ký kết, đảm bảo quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực, ràng buộc quyền và nghĩa vụ của hai bên.
  7. Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền nợ gốc, Hội đồng xét xử nhận định:

    Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 30/01/2023. Tính đến hết ngày 18/7/2024, ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 còn nợ Ngân hàng X tổng cộng là 8.852.831.807 đồng, cụ thể như sau:

    • Nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 là 8.712.041.351 đồng, trong đó: nợ gốc: 7.321.423.967 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.255.197.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 48.548.544 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 86.871.079 đồng).
    • Nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 140.790.456 đồng, trong đó: nợ gốc 95.125.125 đồng, nợ lãi 45.665.331 đồng. Việc ký kết và sử dụng thẻ tín dụng của ông Trương Thái H thực hiện trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2015, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 03/8/2015). Ông H và bà H1 đã cùng ký Giấy cam kết ngày 31/5/2022 về việc dùng tài sản bảo đảm đang thế chấp tại Ngân hàng X để đảm bảo cho hạn mức thẻ tín dụng, do đó đây là nghĩa vụ chung về tài sản của ông H và bà H1.

    Căn cứ Điều 2 của Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022, mục 5 của Khế ước nhận nợ mà hai bên đã giao kết, Điều 2 của Bản Thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế và quy định tại Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 phải thanh toán số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 và khế ước nhận nợ tính đến ngày xét xử là 7.321.423.967 đồng và số tiền nợ gốc đối với hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tính đến ngày xét xử là 95.125.125 đồng.

  8. Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi tính đến ngày xét xử, Hội đồng xét xử nhận định:

    Theo quy định tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 và mục 6, mục 7 của Khế ước nhận nợ mà hai bên đã giao kết, lãi suất do các bên thỏa thuận như sau: Lãi suất cho vay: 10,99%/năm (lãi suất cho vay là 10,99%/năm được cố định trong 12 tháng đầu tiên. Sau đó sẽ được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần và bằng lãi suất cơ sở + 2,5%/năm). Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả: 10%/năm.

    Theo quy định tại Điều 4 của Bản Thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế quy định: Biểu phí dịch vụ sử dụng thẻ được Ngân hàng X từng thời điểm, theo đó mức lãi suất áp dụng từ ngày 28/3/2022 là 30,6%, mức lãi suất áp dụng từ ngày 01/6/2022 là 33%.

    Thỏa thuận của hai bên về lãi suất trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật.

  9. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó, nguyên đơn yêu cầu tiền lãi tính ngày xét xử như sau:
    • Đối với Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 và Khế ước nhận nợ số 2212-LDS-220000120 ngày 31/5/2022: nợ lãi trong hạn: 1.255.197.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 48.548.544 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 86.871.079 đồng.
    • Đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế 07/6/2022: nợ lãi là 45.665.331 đồng.

    Tổng cộng số tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu là 1.436.282.715 đồng.

  10. Theo khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì đối với hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01/01/2017 áp dụng các khoản lãi như sau: lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi chậm trả lãi.
  11. Như vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ mà hai bên đã giao kết và Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên chấp nhận.
  12. Do đó, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.436.282.715 đồng (trong đó nợ lãi của Hợp đồng tín dụng từng lần gồm: nợ lãi trong hạn: 1.255.197.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 48.548.544 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 86.871.079 đồng; nợ lãi của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là 45.665.331 đồng).
  13. Bị đơn có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  14. Bị đơn tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho nguyên đơn theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã giao kết.
  15. Về tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế nêu trên, ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 38/2022/EIB-TĐ/TCTS ngày 08/6/2022, số công chứng 1148, quyển số: 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD, lập tại Phòng C, tỉnh Bình Dương; Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương ngày 08/6/2022; Giấy cam kết về việc dùng tài sản bảo đảm đang thế chấp tại Ngân hàng X đẻ đảm bảo cho hạn mức thẻ tín dụng ngày 31/5/2022. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC950548 và số DC950650, số vào sổ cấp GCN: CS23201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/01/2022, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trương Thái H ngày 02/6/2022.
  16. Tài sản bảo đảm đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/5/2024 theo quy định pháp luật.
  17. Xét thấy các bên đã lập Hợp đồng thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương là đúng quy định tại các Điều 298, Điều 317, Điều 318, Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý, phát sinh hiệu lực.
  18. Nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp các bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC950548 và số DC950650, số vào sổ cấp GCN: CS23201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/01/2022, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trương Thái H ngày 02/6/2022, là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp mà các bên đã giao kết và quy định tại các Điều 303, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên chấp nhận.
  19. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên không đủ trả hết tổng số tiền nợ cho nguyên đơn thì bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng X cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  20. Trường hợp bị đơn thanh toán xong toàn bộ nợ gốc, lãi cho nguyên đơn thì nguyên đơn trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm nợ vay nói trên cho ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1.
  21. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng và yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, do đó bị đơn có trách nhiệm hoàn lại nguyên đơn số tiền này.
  22. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

    Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 1 Điều 158; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 91, Điều 95, khoản 4 Điều 161 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Điều 298, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 322, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X về việc:
    • Buộc ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 2212-LAV-220044837 ngày 25/5/2022 và khế ước nhận nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 8.712.041.351 đồng (trong đó: nợ gốc: 7.321.423.967 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.255.197.761 đồng, nợ lãi quá hạn: 48.548.544 đồng, nợ lãi chậm trả lãi: 86.871.079 đồng).
    • Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ.
    • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ đối với hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/6/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 140.790.456 đồng (trong đó: nợ gốc 95.125.125 đồng, nợ lãi: 45.665.331 đồng).
    • Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
    • Trường hợp ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC950548 và số DC950650, sổ vào sổ cấp GCN: CS23201 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/01/2022, cập nhật thay đổi người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trương Thái H ngày 02/6/2022.
    • Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
    • Trường hợp ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 thanh toán xong toàn bộ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X trả lại toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản bảo đảm nợ vay là quyền sử dụng thửa đất có diện tích 392,5m² thuộc thửa đất số 375, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: phường M, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương nêu trên cho ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1.
    • Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trương Thái H và bà Trần Thị Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 116.852.832 đồng.

    Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.081.350 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0045371 ngày 26/02/2024 và số tiền 3.952.654 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0045370 ngày 26/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Nguyễn Mai Phương

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 429/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 429/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger