TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 429/2023/HS-PT Ngày: 31-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Hoàng Minh Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 186/2024/TLPT- HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Trần Huỳnh Quang H và các đồng phạm do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo bị kháng nghị: Thạch Thái C, sinh năm 1991, tại Bến Tre. Nơi cư trú: S452C ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: G ấp G, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Không; cha là Thạch Thái H1, sinh năm 1961 và mẹ là Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2021 đến nay, (có mặt).
- Người bào chữa: Ông Vũ Thanh H3, luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, (có mặt).
- Bị hại: Hàn Nguyễn Thiên L (chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hàn Văn T và bà Nguyễn Thị Kim T1. Cùng thường trú: xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Cùng địa chỉ liên lạc: Số F, Tổ dân phố H, Khu phố E đường L, Phường A, quận T Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
(Trong vụ án còn có các bị cáo Trần Huỳnh Quang H, Nguyễn Văn N, Trần Năm D, Nguyễn Văn V, Trần Công D1, Thái Quốc L1, Trần Phương H4, Đỗ Văn T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 7/2019, anh Mạnh Trọng H5 vay của Công ty T7 số tiền 40.000.000 đồng, hàng tháng đóng trả góp 2.226.000 đồng. Đến tháng 3/2020 do anh H5 bị tai nạn giao thông nên không có khả năng trả góp cho Công ty T7 như đã cam kết nên Công ty cử người đến nhà của anh H5 để xác minh xem xét việc khởi kiện.
Khoảng 15 giờ ngày 13/6/2021, bị hại Hàn Nguyễn Thiên L là nhân viên thu hồi nợ của Công ty T7 đi cùng khoảng 10 người (chưa rõ lai lịch), đến nhà anh H5 tại địa chỉ số F Ấp F, xã L, huyện B để xác minh thu hồi tiền nợ. Bị hại L đến nhà tìm anh H5 nhưng không gặp, lúc này bị cáo Đỗ Văn T2 ở trong nhà anh H5 cho bị hại L biết anh H5 không nhà và báo cho anh hải biết bị hại L cùng nhiều người đến để đòi. Lúc này, anh H5 kêu Nguyễn Trọng H6 và Trần Công D1 về nhà xem sự việc như thế nào.
Khi H6 và D1 về đến nhà anh H5 thì H6, D1 và bị cáo T2 cãi nhau dẫn đến đánh nhau với nhóm người của bị hại L. Bị cáo T2 bị nhóm người bị hại Luân vây đánh, H6 bị đuổi đánh bỏ chạy ra phía sau nhà, D1 bỏ chạy trốn vào trong nhà vệ sinh và gọi điện thoại cho bị cáo Thạch Thái C nói lại sự việc bị đánh và kêu bị cáo C đến đánh trả lại nhóm của bị hại L. Lúc này, bị cáo C đang ngồi chơi cùng các bị cáo Trần Năm D, Nguyễn Văn V, Trần Huỳnh Quang H, Nguyễn Văn N và T3 (chưa rõ lai lịch) tại nhà của Trần Phương h, địa chỉ số F Ấp F, xã L, huyện B nên bị cáo C rủ D, V, H, N và T3 vào trong nhà Phương H4 tiếp tục lấy hung khí. T3 đi vào trong nhà H4 lấy một cây chĩa đem ra để trước cửa, H lấy hai cây chĩa 03 ngạnh dài 03 mét đưa cho D cầm 01 cây và H cầm 01 cây. D cầm cây chĩa lên xe mô tô biển số 84M1-144.69 do Nhiều điều khiển chạy trước, C cầm chia chĩa lên xe mô tô biển số 53Y9-8279 do V điều khiển chạy sau. Lúc này, Thái Quốc L1 dẫn xe mô tô ra khỏi nhà để đi công việc thì H cầm cây chĩa lên xe Lễ ngồi và kêu L1 chạy theo C và D đến nhà của Trọng H5. Khi đến trước nhà của Trọng H5 thì L1 bỏ đi công việc.
C, H, D, N và V nhìn vào nhà của Trọng H5 thấy nhóm bị hại L nên D và N cầm cây chĩa ngồi trên xe mô tô đuổi đánh thì một số đối tượng (chưa rõ lai lịch) trong nhóm của bị hại L bỏ chạy. D và N liền điều khiển xe mô tô đuổi theo nhưng không được nên quay lại. Bị hại L và những người còn lại (chưa rõ lai lịch) dùng gạch đá ném về phía C, H và V nên C và H xuống xe xông vào; C cầm cây chĩa đuổi đánh một thanh niên nhưng không đánh được nên quay lại. Lúc này, H bị ném đã trúng vào lưng nên quay lại nhìn thấy anh L cầm đá định ném H nên cầm cây chĩa đâm 01 cái trúng vào cổ anh L rồi rút cây chĩa ra. C, D và N quay lại thấy anh L bị thương tích tại vùng cổ chảy nhiều máu, còn H thì cầm cây chĩa đứng gần đó thì biết H đã đâm anh L nên C kêu cả nhóm đi về. Vô chở C, N chở D, H nhờ Nguyễn Văn Ngọc T4 đang xem đánh nhau chở quay lại nhà của Phương H4 trên đường đi H vứt bỏ cây chĩa không thu hồi được. C về đến nhà trọ thì gọi điện thoại cho Phương H4 kêu đem hung khí đi cất giấu. Phương H4 biết C vừa lấy hung khí trong nhà mình đi đánh nhau nên nhờ Ngô Xuân H7 và Khưu Bá T5 đến nhà lấy 16 cây chĩa, 12 cây phóng dao, 01 cây mã tấu và 01 cây rìu tự chế để dưới gầm giường đem lên gác cất giấu. Riêng H, về đến nhà trọ thì gọi điện thoại cho Đỗ Văn T2 đến chở H về quê tỉnh An Giang trốn thì T2 đồng ý.
Anh Nguyễn Bá H8 và anh Võ Minh T6 cùng làm chung Công ty T7 CREDIT với anh L đi xác minh thu hồi nợ tại ấp G, xã L về ngang thấy anh L bị đâm gây thương tích nên đưa đến Bệnh viện C1 cấp cứu nhưng anh L đã chết trước khi đến bệnh viện.
Trần Huỳnh Quang H về đến tỉnh Đồng Tháp thì biết tin anh L đã chết nên quay lại đến Công an xã L đầu thú vào ngày 14/6/2021.
Thạch Thái C, Nguyễn Văn N, Trần Năm D, Nguyễn Văn V, Trần Phương H4, Đỗ Văn T2 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 14/6/2021. Hồ sơ vụ án được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 3948-21/KLGĐ-PY ngày 09/8/2021 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận giám định pháp y từ thi Hàn Nguyễn Thiên L:
1. Các kết quả chính:
- - Vùng đầu: Da đầu không tổn thương dập rách. Xây xát da mép phải, kích thước (4,5 x 0,2) cm. Bên trong không tụ máu dưới da và trong cơ. Xương hộp sọ, xương hàm mặt không tổn thương.
- - Vùng cổ: vết thương vùng cổ phải cách dưới góc hàm dưới bên phải 4cm, kích thước 1 cm x 0,2 cm, dạng hình khe, bờ mép sắc gọn làm thủng cơ ức đòn chũm phải, đứt rời động mạch cảnh phải cách dưới đoạn chia đôi 2 cm, đứt tĩnh mạch cảnh phải. Vết thương có chiều hướng từ trước ra sau, hơi chéch từ phải sang trái và từ dưới lên trên, sâu khoảng 6cm. Vết thương gây tụ máu nặng dọc cân cơ cổ phải, mô liên kết trước cốt sống (sau thực quản) và cân cơ cổ sâu bên trái. Lòng khí quản sạch. Xương móng, sụn giáp, sụn khí quản, thực quản vùng cổ không tổn thương. Bó mạch thần kinh cổ trái không tổn thương. Các đốt sống cổ không tổn thương.
- - Vùng ngực - bụng: Xây xát da ngực phải liên ngang sườn 6, 7 và 8, kích thước (3 x 0,2)cm. Thùng rách da nông bờ sườn phải trên nách trước, kích thước (0,3 x 0,2)cm. Các tạng khác bên trong nhợt nhạt và không tổn thương.
- - Ngoài ra có: thùng rách da nông mặt trước đoạn 1/3 trên cánh tay phải, kích thước (0,5 x 0,2)cm. Thủng rách da nông mặt sau đoạn 1/3 dưới cánh tay phải, kích thước (01 x 0,5)cm. Thủng rách da khuỷu tay phải, kích thước (1x0,6)cm. Thủng rách da nông mặt trước đoạn 1/3 giữa đùi phải, kích thước (1x0,4)cm. Thủng rách da nông mặt trước đoạn 1/3 giữa cẳng chân trái, kích thước (1,5 x 0,7)cm. Các vết thủng rách da, thủng rách da nông này có dạng khe, bầu dục hay dạng chấm chỉ gây tổn thương da và tổ chức dưới da.
- - Đứt gan tay trái, bờ mép nhọn, kích thước (11 x 2)cm chỉ gây tổn thương da và cơ.
- - Kết quả phân tích mẫu máu bằng phương pháp sắc ký khí không tìm thấy E (cồn).
- - Kết quả phân tích mẫu máu và nước tiểu bằng phương pháp thử bằng que thử Q và sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) không tìm thấy ma túy.
- - Kết quả phân tích mẫu máu nạn nhân bằng phương pháp Lattes và phương hấp thụ - tách thuộc nhóm máu B.
2. Kết luận:
- - Nguyên nhân Hàn Nguyễn Thiên L chết do sốc mất máu không hồi phục do vết thương đâm đứt động - tĩnh mạch cảnh phải.
- - Trong máu không tìm thấy cồn. Trong máu và nước tiểu không tìm thấy ma túy. Mẫu máu nạn nhân thuộc nhóm máu B.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Trần Huỳnh Quang H, Thạch Thái C, Nguyễn Văn N, Trần Năm D, Nguyễn Văn V, Trần Công D1, Thái Quốc L1, Trần Phương H4, Đỗ Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai các nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về tử thi; biên bản đối chất; cùng các tài liệu đã thu thập về diễn biến vụ án.
Đối với Mạnh Trọng H5 là người kêu Nguyễn Trọng H6 và Trần Công D1 về nhà Trọng H5 xem việc anh L đến nhà đòi tiền như thế nào; Trọng H5 không kêu gọi và không tham gia vào việc đánh nhau; D1 khi bị đánh không gọi cho Trọng H5 mà gọi điện thoại cho Thạch Thái C đến đánh nhau với nhóm người đi cùng bị hại Hàn Nguyễn Thiên L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý đối với Mạnh Trọng H5.
Đối với Nguyễn Văn Ngọc T4 (sinh ngày 07/9/2008) có hành vi chở Trần Huỳnh Quang H tẩu thoát sau khi H sử dụng câu chĩa 03 ngạnh đâm chết anh H9 Nguyễn Thiên L là có dấu hiệu đồng phạm với H, về tội “Giết người”. Tuy nhiên, tại thời điểm ngày 13/6/2021 T4 mới 12 tuổi 03 tháng 23 ngày do đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H có công văn đề nghị chính quyền địa phương quản lý giáo dục Nguyễn Văn Ngọc T4 theo quy định.
Đối với Khưu Bá T5 (sinh ngày 10/11/2007), Ngô Xuân H7 (sinh ngày 27/7/2008), được Trần Phương H4 nhờ đem hung khí đi cất giấu. P và H7 biết là hung khí sử dụng để đánh nhau vào ngày 13/6/2021 tại Ấp F, xã L, huyện B, cả hai đồng ý thực hiện nên có dấu hiệu về tội “Che giấu tội phạm”. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Khưu Bá P1 mới 13 tuổi 05 tháng 20 ngày, còn Ngô Xuân H7 mới 12 tuổi 01 tháng 03 ngày. Do đó, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Che giấu tội phạm”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H có công văn đề nghị chính quyền địa phương quản lý giáo dục Khưu Bá P1 và Ngô Xuân H7 theo quy định.
Đối với những thanh niên khoảng 10 người (chưa rõ lai lịch) đi cùng bị hại Hàn Nguyễn Thiên L, có hành vi tham gia đánh nhau vào ngày 13/6/2021 tại nhà địa chỉ số F ấp F, xã L, huyện B, có dấu hiệu tội phạm “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 16/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, khởi tố vụ án “Gây rối trật tự công cộng” và tách vụ án để tiếp tục điều tra xem xét xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Huỳnh Quang H, Thạch Thái C, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn N, Trần Năm D, Trần Công D1, Thái Quốc L1 phạm tội “Giết người”.
1.1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Trần Huỳnh Quang H 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
1.2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Thạch Thái C 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
1.3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
Xử phạt: Bị cáo Trần Năm D 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công D1 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 29/9/2022.
1.4. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Thái Quốc L1 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2022.
2. Tuyên bố các bị cáo Trần Phương H4, Đỗ Văn T2 phạm tội “Che giấu tội phạm”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 389; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Trân Phương H4 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T2 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị Thạch Thái C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định kháng nghị. Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng nghị đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Thạch Thái C từ 13 năm tù lên 16 năm đến 18 năm tù về tội Giết người.
- Bị cáo Thạch Thái C và Luật sư bào chữa cho bị cáo yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm, vì hình phạt 13 năm tù án sơ thẩm áp dụng đủ tính giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo cũng là người đên xem anh H4 bị nhóm bị hại L đuổi đánh như thế nào và bị cáo không lường trước được việc bị cáo H đâm chết bị hại, bị cáo không trực tiếp gây ra cái chết cho bị hại L, các bị cáo phạm tội Giết người có phần lỗi của bị hại, trong quá trình điều tra và tại các phiên toà bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên toà phúc thẩm và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Thạch Thái C khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo khác cũng như phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:
Khoảng 15 giờ ngày 13/6/2021, bị hại Hàn Nguyễn Thiên L là nhân viên thu hồi nợ của Công ty T7 đi cùng khoảng 10 người (chưa rõ lai lịch), đến nhà anh Mạnh Trọng H5 tại địa chỉ số F Ấp F, xã L, huyện B để thu hồi tiền nợ thì xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau với nhóm của Đỗ Văn T2, Trần Công D1 và Nguyễn Trọng H6 nên D1 đã gọi điện thoại cho bị cáo Thạch Thái C nói việc bị đánh và kêu bị cáo C đến đánh trả lại nhóm của bị hại L. Bị cáo C đã rủ các bị cáo Trần Huỳnh Quang H, Nguyễn Văn N, Trần Năm D, Nguyễn Văn V đi đánh nhau thì cả nhóm đồng ý. Bị cáo H nhờ bị cáo L1 chở đi đánh nhau, bị cáo L1 đồng ý nên điều khiển xe mô tô chở bị cáo H cầm hung khí, bị cáo V chở bị cáo C cầm hung khí, bị cáo N chở bị cáo D cầm hung khí chạy đến địa chỉ số F Ấp F, xã L, huyện B đánh nhau với nhóm của bị hại L. Trong lúc đánh nhau bị cáo H cầm cây chĩa 03 ngạnh dài khoảng 03m đâm một trúng vào cổ của bị hại L dẫn đến tử vong. Sau đó, bị cáo Trần Phương H4 nói Ngô Xuân H7 và Khưu Bá P1 mang hung khí đi cất giấu, còn bị cáo T2 chở bị cáo H bỏ trốn. Hành vi của các bị cáo H, C, V, N, D, D1, L1 đã đủ dấu hiệu phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp có tính chất côn đồ, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của các bị cáo H4 và T2 đã đủ dấu hiệu phạm tội “Che giấu tội phạm”, thuộc trường hợp che giấu tội “Giết người” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau khi xét xử, các bị cáo, bị hại và Viện kiểm sát không kháng cáo, kháng nghị về tội danh và điều luật áp dụng cũng như về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2]. Xét kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Thạch Thái C, kháng nghị cho rằng bị cáo C rủ rê lôi kéo các bị cáo khác phạm tội, bị cáo là người chủ động lấy hung khí để các bị cáo khác biết chỗ để hung khí, khi đến hiện trường đã cầm hung khí rượt đuổi đánh nhóm của bị hại L, tạo điều kiện cho bị cáo H đâm bị hại L, có tình tiết tăng nặng là xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội, bị cáo không có hành động ngăn cản nhằm chấm dứt việc đánh nhau nên vai trò của bị cáo là rất tích cực nên hình phạt 13 năm tù là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, bị cáo C là người rủ rê các các bị cáo Trần Huỳnh Quang H, Nguyễn Văn N, Trần Năm D, Nguyễn Văn V đi đánh nhau với nhóm bị hại L thì cả nhóm đồng ý. Tuy nhiên, cái chết của bị hại L như kháng nghị có nhận xét không do bị cáo gây ra, bị cáo chỉ là đồng phạm với bị cáo H và do bị cáo là người rủ rê các bị cáo khác cùng đi đánh nhau, phạm tội có tình tiết tăng nặng nên hình phạt mà án sơ thẩm áp dụng là cao nhất so với các bị cáo khác là phù hợp, đã đánh giá toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả đã gây ra, các bị cáo phạm tội có phần lỗi của bị hại nên không chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng nghị yêu yêu cầu tăng hình phạt đối bị cáo Thạch Thái C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Thạch Thái C, phạm tội Giết người.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
3. Xử phạt bị cáo Thạch Thái C, 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 14/6/2021.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Tám |
Bản án số 429/2023/HS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 429/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Huỳnh Quang Huy
