|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 429/2024/HC-PT
Ngày 31/7/2024
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Tuấn;
Bà Nguyễn Phương Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Diệu Nhân, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 161/2024/TLPT-HC ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 395/2023/HC-ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7873/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện P, Hà Nội, vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Cấn Quang P; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện P, Hà Nội, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông C: Luật sư Nguyễn Hồng Đ – Công ty L – Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện P, Hà Nội.
Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Khu H, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Hà Nội, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, Hà Nội, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, vắng mặt;
- Bà Trương Thị T1, sinh năm 1965, vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện P, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện,
người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Ngày 21/6/2018 UBND huyện P ban hành Quyết định số 1432/QĐ-UBND về việc phê duyệt danh mục công trình giao thông thủy lợi nội đồng và giao thông nông thôn tại các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018, trong đó có công trình tuyến đường trục chính thôn N, xã T, lấy gần 10m² (KT: S = (0,74 +0,95 )/2 x 11,4) đất của hộ gia đình ông Nguyễn Văn C. Tài sản trên đất của gia đình ông bị buộc phải tháo dỡ là 1 phần căn nhà 3 gian, được xây dựng kiên cố từ trước ngày 15/10/1993.
Mặc dù đã lấy vào diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông gần 10m² đất và chính quyền thôn, các đoàn thể động viên gia đình tháo dỡ công trình xây dựng trên đất bao gồm: ngôi nhà ba gian, mái hiên đổ bê tông có lan can, tường rào, sân bê tông lát gạch, cổng sắt, hai cột trụ cổng bê tông và mái cổng bê tông để bàn giao mặt bằng cho dự án nhưng chủ đầu tư là UBND xã T không hề báo cáo UBND huyện P để có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với diện tích đất đã lấy của gia đình ông.
Việc cơ quan chức năng tiến hành thu hồi đất để xây dựng đường giao thông nhằm phát triển chung cho toàn thôn, gia đình ông nhất trí và hợp tác bàn giao giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Theo đó, đầu tháng 7 năm 2018, ông có làm đơn đề nghị UBND xã T xem xét bồi thường, hỗ trợ cho gia đình đối với phần diện tích bị thu hồi theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 30/11/2018, ông nhận được Thông báo số 71a/TB-UBND về kết quả giải quyết đơn của công dân với nội dung: “Xã T không có chủ trương hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với các trường hợp lấn, chiếm đất công để sử dụng... đồng thời chủ trương của Đảng và nhà nước trong chương trình xây dựng nông thôn mới vận động người dân hiến đất hợp pháp của gia đình để mở rộng đường giao thông... đối với đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn C xã không có chủ trương hỗ trợ giải phóng mặt bằng.
Không đồng ý với nội dung thông báo trên, ngày 18/12/2018, ông làm đơn khiếu nại Thông báo số 71a/TB-UBND của UBND xã T và nhận được Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 29/10/2019 của UBND xã T với nội dung "giữ nguyên Thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018...”. Nhận thấy kết quả giải quyết đơn khiếu nại là không khách quan, không phù hợp với quy định của pháp luật nên ông đã làm đơn khiếu nại lần 2 gửi tới UBND huyện P, thành phố Hà Nội.
Ngày 25/5/2020, Chủ tịch UBND huyện P ban hành Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) với nội dung: “Công dân cho rằng phần diện tích đất 19m² thuộc vào diện tích đất của thửa số 146 đã được cấp GCN QSD đất là không đúng. Việc thu hồi diện tích đất 19m² đất công để xây dựng tuyến đường trục chính thôn N theo quy định tại Điều 64, Điều 82 Luật Đất đai 2013... Tuy nhiên, tại các Quyết định phê duyệt dự toán của UBND huyện đối với công trình đường trục chính thôn N không có phần chi phí giải phóng mặt bằng; mặt khác tại Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố H, UBND xã T không có đủ thẩm quyền để lập phương án giải phóng mặt bằng... Công dân cho rằng việc UBND xã T không lập phương án đền bù, hỗ trợ cho gia đình ông C theo quy định tại Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố H là không đủ cơ sở...”
Ngoài ra, tại Điều 2 của Quyết định, Chủ tịch UBND huyện P yêu cầu xã T “... Thiết lập hồ sơ và xử lý dứt điểm đối với phần diện tích 97,3m² sử dụng không hợp pháp (lấn đất công) của ông Nguyễn Văn C theo quy định của pháp luật đất đai..."
Ông cho rằng, việc Chủ tịch UBND huyện P ban hành Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 về việc giải quyết khiếu nại (Lần 2) là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Thứ nhất, Quyết định trên có khẳng định UBND xã T không đủ thẩm quyền để lập phương án giải phóng mặt bằng nhưng lại không hướng dẫn gia đình tôi gửi đơn thư đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết là thiếu trách nhiệm. Việc không xem xét đầy đủ tình hình thực tế đời sống sinh hoạt của các hộ dân bị thu hồi để chuẩn bị kinh phí bồi thường, hỗ trợ người dân theo đúng quy định của pháp luật là thiếu sót của UBND huyện P. Mặc dù vậy, trong Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 UBND huyện P không tiến hành khắc phục mà chỉ đưa ra đánh giá chung chung là không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Thứ hai, Diện tích 10m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho gia đình ông năm 1999. Thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông đã xây dựng công trình nhà ở và cung cấp đầy đủ giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, bản thân UBND xã T và UBND huyện P cũng đã trực tiếp tiến hành xác minh đo đạc năm 1994 có trừ hành lang lưới điện, cắm mốc giới, xác minh nguồn gốc đất, đủ điều kiện được cấp phần diện tích đất đã trừ hành lang lưới điện... Việc UBND huyện cho rằng phần diện tích gần 10m² (có nhà ở xây năm 1991) nằm trong hành lang lưới điện để không tiến hành bồi thường, hỗ trợ gia đình ông là trái pháp luật.
Thứ ba, việc UBND huyện P cho rằng trong quá trình sử dụng đất sau này, ông mới xây dựng nhà ở cấp 4 lấn ra diện tích đất công thuộc hành lang lưới điện là không có căn cứ. Bởi gia đình ông tiến hành xây dựng nhà ở cấp 4 hiện nay từ những năm 1991 (trước ngày 15/10/1993), tại thời điểm cấp GCN QSDĐ phần công trình này đã có trên đất mà không hề có bất cứ văn bản xử lý hành chính về việc lấn chiếm nào của các cấp có thẩm quyền. Do đó, việc UBND huyện P không xem xét bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất bị buộc phải tháo dỡ của gia đình ông là trái pháp luật.
Thứ tư, tại Quyết định số 1715/QĐ-UBND đã vượt quá phạm vi giải quyết khiếu nại khi UBND huyện P tự ý đưa ra yêu cầu xã Tân Dân lập hồ sơ và xử lý dứt điểm đối với diện tích 97,3m² nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông. Tuy nhiên, phần đất trên gia đình ông C đã sử dụng ổn định, tiến hành trồng cây và làm công trình phụ từ trước năm 2004 đến nay mà không hề có bất cứ tranh chấp hay khiếu nại, khiếu kiện gì.
Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án hủy các văn bản sau:
- Thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T thông báo về kết quả giải quyết đơn của công dân;
- Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 29/10/2019 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết khiếu nại thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T (lần đầu);
- Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện P về việc giải quyết khiếu nại (Lần 2) của ông Nguyễn Văn C.
Yêu cầu UBND huyện P thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất bị thu hồi và toàn bộ tài sản gắn liền với đất đã bị tháo dỡ bao gồm: ngôi nhà ba gian, mái hiên đổ bê tông có lan can, tường rào, sân bê tông lát gạch, cổng sắt, hai cột trụ cổng bê tông và mái cổng bê tông cùng các chính sách hỗ trợ khác theo đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện P thành phố Hà Nội:
- Nội dung đơn khiếu nại và quá trình giải quyết khiếu nại của công dân.
- Quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND xã T:
- Ngày 30/7/2018, ông Nguyễn Văn C có đơn đề nghị với nội dung: “tuyến đường đang được triển khai xây dựng dọc trục chính đường làng thôn N, xã T do UBND xã T làm chủ đầu tư. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai xây dựng chủ đầu tư là UBND xã T không tiến hành xác minh đo đạc mốc giới của tuyến đường đi qua phần diện tích đất của hộ gia đình chúng tôi, trong quá trình lập dự án không tiến hành xác minh, lập phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với hộ gia đình chúng tôi đã vi phạm luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp của gia đình chúng tôi. Hộ gia đình chúng tôi không đồng ý bàn giao mặt bằng khi chưa nhận được các quyết định của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến phần đất của gia đình. Chúng tôi làm đơn này đề nghị tiến hành lập phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư đối với phần diện tích đất ở của gia đình theo quy định của Luật đất đai năm 2013".
Ngày 30/11/2018, UBND xã T có Văn bản số 71a/TB-UBND về thông báo kết quả giải quyết đơn của công dân. Tại Thông báo xác định:
“Ngày 04/8/2018, UBND xã tiến hành xác minh đất tại thửa số 146, tờ bản đồ số 08, diện tích 131m² của hộ ông C thể hiện: Từ mép đường gạch hiện trạng cạnh phía Bắc là 2,0m, cạnh phía Nam là 1,5m thuộc hành lang lưới điện song mới đến đất của gia đình vẫn đảm bảo diện tích theo GCN QSD đất. Gia đình ông C đề nghị hỗ trợ giải phóng mặt bằng, vì trên đất đã xây dựng nhà cấp 4. Quan điểm của UBND xã trong chương trình xây dựng nông thôn mới là tuyên truyền vận động nhân dân hiến đất hợp pháp của gia đình để mở rộng đường giao thông thôn, xóm. Xã không có chủ trường hỗ trợ giải phóng mặt bằng, mặt khác đây là gia đình lấn chiếm của tập thể thì phải trả lại để mở rộng đường giao thông.
Kết luận: xã T không có chủ trương hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với trường hợp lấn, chiếm đất công để sử dụng mục đích riêng của gia đình, đồng thời Đảng và Nhà nước trong chương trình xây dựng nông thôn mới vận động người dân hiến đất hợp pháp của gia đình để mở rộng đường giao thông, xây dựng các công trình phúc lợi. Đối với đơn đề nghị của ông C xã không có chủ trương hỗ trợ giải phóng mặt bằng".
Không đồng ý với thông báo kết quả giải quyết của UBND xã T. Ngày 18/12/2018, ông Nguyễn Văn C tiếp tục có đơn khiếu nại Thông báo số 71a/TB-UBND của UBND xã T. Ngày 14/3/2019, UBND xã T ban hành Quyết định số 18/QD- UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại và thành lập tổ xác minh khiếu nại. Ngày 28/3/2019, Tổ xác minh có báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại đối với Thông báo số 71a/TB-UBND. Ngày 29/10/2019, UBND xã T ban hành Quyết định số 102/QĐ- UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với ông Nguyễn Văn C1. Tại Điều 1 của Quyết định xác định: “giữ nguyên thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T về thông báo kết quả giải quyết đơn của công dân”.
1.2. Quá trình giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch UBND huyện P.
Ngày 01/11/2019, Công dân có đơn khiếu nại Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 29/10/2019 của Chủ tịch UBND xã T. Ngày 13/02/2020, Thanh tra huyện tiến hành làm việc với công dân để thống nhất chốt nội dung đơn khiếu nại. Tại buổi làm việc công dân trình bày nội dung khiếu nại cụ thể: “Công dân cho rằng theo Quyết định số 10/2017/QĐ- UBND của UBND thành phố H. UBND xã T không bồi thường hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn C đối với phần diện tích đất và phần xây dựng công trình (thuộc thửa đất số 146, diện tích 131m²) có tuyến đường trục chính thôn N đi qua là không đúng".
Ngày 24/2/2020, UBND huyện ban hành Quyết định số 651/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại. Ngày 28/4/2020, Tổ xác minh theo Quyết định số 651/QĐ-UBND của UBND huyện tiến hành thông qua dự thảo kết quả xác minh nội dung khiếu nại và tổ chức đối thoại. Tại buổi làm việc đối thoại cụ thể như sau:
- - Ý kiến của ông Nguyễn Văn C: nhất trí với dự thảo kết quả xác minh của tổ xác minh. Tuy nhiên, vẫn đề nghị được hỗ trợ đối với công trình gia đình đã tự tháo dỡ.
- - Ý kiến của ông Cấn Quang P: nhất trí với dự thảo kết quả xác minh của tổ xác minh; đề nghị hỗ trợ phần công trình gia đình đã tự tháo dỡ và khẳng định phần diện tích 19m² nằm trong GCN QSD đất đã được cấp không phải nằm trong hành lang lưới điện.
- - Ý kiến của UBND xã: Hoàn toàn nhất trí với dự thảo kết quả xác minh nội dung khiếu nại của tổ xác minh, đồng thời khẳng định diện tích 19m² đã xây dựng đường làng thôn N thuộc diện tích đất công (thuộc hành lang lưới điện đã được thể hiện trên GCN QSD đất, bản đồ năm 1994, bản đồ quy hoạch xây dựng nông thôn mới) không nằm trong tổng số 131m² diện tích đất của ông Nguyễn Văn C đã được cấp GCN QSD đất”.
Như vậy, tại buổi đối thoại ông Nguyễn Văn C đã nhất trí với kết quả xác minh của tổ xác minh, nhưng vẫn đề nghị được hỗ trợ và cho rằng diện tích 19m² thuộc vào thửa đất thổ cư của gia đình ông Nguyễn Văn C nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh.
Ngày 04/5/2020, Tổ xác minh có báo cáo số 47/BC-TXM về kết quả xác minh nội dung đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn C, ở thôn N, xã T.
Ngày 25/5/2020, UBND huyện P ban hành Quyết định số 1715/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần 2) của ông Nguyễn Văn C, thôn N, xã T. Tại quyết định xác định:
* Về quy trình giải quyết khiếu nại của UBND xã:
Từ khi tiếp nhận đơn kiến nghị của công dân đến quá trình giải quyết khiếu nại. UBND xã T đã ban hành các văn bản đảm bảo theo đúng quy trình của Luật khiếu nại năm 2011. Tuy nhiên, thời gian giải quyết khiếu nại còn chậm, chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại năm 2011.
* Đối với nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình ông C:
- Bản đồ, sổ mục kê, kết quả đo đạc năm 1994, GCN QSD đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C đều thể hiện diện tích 19m² thuộc quỹ đất công (hành lang lưới điện); ông Nguyễn Văn C đã thừa nhận diện tích 19m² này là đất công và xác nhận tại Biên bản xác minh mốc giới ngày 04/8/2018.
Hộ ông Nguyễn Văn C sử dụng phần diện tích này không chứng minh được việc sử dụng hợp pháp là hành vi lấn đất, mặc dù hộ ông Nguyễn Văn C sử dụng trước ngày 15/10/1993.
- Ngày 26/3/2020, Tổ xác minh phối hợp với UBND xã xác minh phần diện tích sử dụng của gia đình ông Nguyễn Văn C với kết quả như sau: ngoài phần diện tích 131m² đã được cấp GCN QSD đất, ông Nguyễn Văn C còn sử dụng thêm 97,3m². Tuy nhiên, gia đình ông Nguyễn Văn C không cung cấp được giấy tờ chứng minh việc sử dụng hợp pháp đối với diện tích 97,3m². Việc sử dụng diện tích 97,3m² là hành vi lấn đất. Do đó, cần phải xử lý theo quy định của pháp luật đất đai.
Như vậy: Công dân cho rằng phần diện tích đất 19m² thuộc vào diện tích của thửa đất số 146 đã được cấp GCN QSD đất là không đúng. Việc thu hồi diện tích 19m² đất công để xây dựng tuyến đường trục chính thôn N theo quy định tại Điều 64, Điều 82 Luật đất đai năm 2013.
* Đối với việc xây dựng tuyến đường trục chính thôn N:
UBND xã T và hộ gia đình đều xác định công trình xây dựng của ông Nguyễn Văn C được xây dựng trước 15/10/1993 vào diện tích đất công (hành lang lưới điện). Tại các Quyết định phê duyệt dự toán của UBND huyện đối với công trình đường trục chính thôn N không có phần chi phí giải phóng mặt bằng; mặt khác tại Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố H, UBND xã T không có đủ thẩm quyền để lập phương án giải phóng mặt bằng; việc giải toả công trình của ông Nguyễn Văn C là do gia đình ông C tự tháo dỡ, giải toả. Do đó, không đủ cơ sở để thiết lập hồ sơ giải phóng mặt bằng.
Như vậy: Công dân cho rằng việc UBND xã T không lập phương án đền bù, hỗ trợ cho gia đình ông C theo quy định tại Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND của UBND thành phố H là không đủ cơ sở.
2. Quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện P:
UBND huyện P đã tiến hành các bước giải quyết khiếu nại đúng theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011.
Đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C và giữ nguyên nội dung Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 của UBND huyện P.
Quan điểm của người bị kiện là Ủy ban nhân dân xã T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Hà Nội
Giữ nguyên nội dung các văn bản đã ban hành và đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
Quan điểm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị T1 và ông Nguyễn Văn T:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với ý kiến của người khởi kiện. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 395/2023/HC-ST ngày 20/11/2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Căn cứ Khoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 158; Khoản 1, Đ1 a khoản 2 Điều 193, Điều 194; Điều 204; Điều 206; Khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật Khiếu nại năm 2011; Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29 tháng 3 năm 2017 của UBND thành phố H; Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.,
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/11/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Văn C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diên theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C là ông Cấn Quang P và Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C vì cho rằng diện tích thừa là nằm ở phía sau thửa đất nhưng không đưa ra được tài liệu chứng minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T thông báo về kết quả giải quyết đơn của công dân; Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 29/10/2019 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết khiếu nại thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T (lần đầu); Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện P về việc giải quyết khiếu nại (Lần 2) của ông Nguyễn Văn C là các quyết định hành chính bị kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 và Khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ông Nguyễn Văn C làm đơn khởi kiện ngày 15/9/2020 và gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ngày 17/9/2020 là đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Ngày 27/11/2023, ông Nguyễn Văn C kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 395/2023/HC-ST ngày 20/11/2023 là trong thời hạn quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng hành chính. Ông C đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo Biên lai số 0023016 ngày 30/01/2024. Do đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành các Thông báo, Quyết định: Thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T thông báo về kết quả giải quyết đơn của công dân và Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 29/10/2019 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết khiếu nại đối với Thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T (lần đầu) được ban hành đúng trình tự, thủ tục và đúng đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 17 Luật khiếu nại. Về thời gian giải quyết khiếu nại còn chậm chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại 2011, tuy nhiên lỗi về việc giải quyết chậm không làm thay đổi nội dung, bản chất và kết quả giải quyết sự việc, do đó chỉ cần rút kinh nghiệm đối với Ủy ban nhân dân xã T là phù hợp.
[2.2] Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 về việc giải quyết khiếu nại (Lần 2) của ông Nguyễn Văn C do Chủ tịch UBND huyện P ban hành là đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 18 Luật khiếu nại.
[2.3] Về nội dung giải quyết:
[2.4] Về nguồn gốc đất: Căn cứ Báo cáo số 12/BC-UBND ngày 13/3/2020 của UBND xã T về quá trình giải quyết đơn và nguồn gốc thửa đất của ông Nguyễn Văn C, thôn N, xã T, huyện P, TP Hà Nội (BL 496) và các tài liệu do UBND xã T và UBND huyện P cung cấp thể hiện:
[2.5] Tại Bản đồ và sổ mục kê năm 1982 thể hiện thửa đất số 146 của gia đình ông Nguyễn Văn C là một phần thuộc Thửa đất số 85, tờ bản đồ số 03, diện tích 8655m², kê khai sử dụng HTX Nông nghiệp. Trước năm 1992, ông Nguyễn Văn C đã lấn chiếm phần diện tích đất ao do Hợp tác xã kê khai sử dụng. Năm 1992, vị trí đất của ông gia đình ông C được UBND xã thu sản lượng là 6kg/m², tổng số kg thóc phải nộp là 642 kg, gia đình ông C đã nộp đầy đủ làm 02 lần. Năm 1994, thực hiện công tác đo đạc bản đồ địa chính trên địa bàn xã T, diện tích đất của ông Nguyễn Văn C theo kết quả đo đạc, bản đồ, sổ mục kê là 131m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 08. Ngày 06/9/1999, UBND huyện P đã cấp GCN QSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn C với diện tích 131m², số phát hành P 865070 (BL 514), mục đích sử dụng là đất ở.
[2.6] Tại bản đồ năm 1994; kết quả đo đạc đất thổ cư năm 1994; GCN QSD đất số 865070 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C năm 1999 và quy hoạch xây dựng nông thôn mới đều thể hiện phần diện tích đất công thuộc hành lang lưới điện với diện tích 19 m² (chiều phía Bắc rộng 2m, phía Nam rộng 1,5m; chiều rộng thửa đất 11,4m). Trong quá trình sử dụng ông Nguyễn Văn C đã xây dựng công trình nhà cấp 4, lấn ra diện tích đất công thuộc hành lang lưới điện với diện tích 19m² (thời điểm xây dựng trước 15/10/1993). Theo UBND huyện P thì thôn N và UBND xã T có lập biên bản vi phạm hành chính, nhưng do thời gian đã lâu không còn lưu trữ được.
[2.7] Theo Bản đồ và Sổ mục kê đo đạc hiện trạng đất năm 2015 thì Thửa đất thể hiện là Thửa 29, Tờ bản đồ số 36, diện tích 218,9m²; chủ sử dụng là: Nguyễn Văn C, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn.
[2.8] Kết quả kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của ông Nguyễn Văn C (ông C có chứng kiến và ký Biên bản): Ngày 26/3/2020, Tổ xác minh phối hợp cùng với UBND xã, thôn N tiến hành kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn Văn C (mốc giới do gia đình ông Nguyễn Văn C xác định) với tổng diện tích là 247,3m². Trong đó, 19m² thuộc hành lang lưới điện (đã xây dựng đường trục chính thôn N), 131m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 97,3m² gia đình ông C không chứng minh được việc sử dụng hợp pháp đối với diện tích này (tăng so với GCN QSD đất đã được cấp) (BL489-492).
[2.9] Ngày 04/8/2018, UBND xã T thiết lập biên bản kiểm tra hiện trạng thửa đất số 146, diện tích 131m², tờ bản đồ số 08 như sau: “Thống nhất phương pháp cụ thể xác minh thửa đất UBND cùng thôn và gia đình thống nhất phương pháp đo như sau: Kết quả đo đạc bản đồ năm 1994, cạnh phía Bắc từ giáp mép đường xây gạch vào đến thửa đất của gia đình có hành lang lưới điện là 2m thuộc đất công, cạnh phía Nam từ mép đường gạch xây vào đến thửa đất của gia đình có hành lang lưới điện là 1,5m thuộc đất công. Còn diện tích của gia đình theo kết quả đo đạc bản đồ năm 1994 đã được cấp GCN QSD gia đình không có nhu cầu đo". Ông Nguyễn Văn C đã ký xác nhận phần diện tích đất công thuộc hành lang lưới điện trong văn bản này (BL 531).
[2.10] Tại Biên bản làm việc của UBND xã T ngày 20/9/2018, Ông C cũng có ý kiến: “Hiện một phần công trình xây dựng của hộ gia đình nằm trên diện tích lưới điện công khoảng 19 m², gia đình đã xây dựng trước 12/3/1992" (BL 524-526).
[2.11] Tại biên bản ngày 04/8/2018 của UBND xã T cũng kết luận: “Giao cho Đ2, đảm bảo xây dựng tuyến đường các hộ trên đất công, thuộc hành lang lưới điện, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn C...”
[2.12] Hiện trạng thẩm định thửa đất thể hiện diện tích đất của hộ ông Nguyễn Văn C đang sử dụng sau khi làm đường có diện tích 222,7m². Diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 131 m². Theo số liệu thẩm định, ông C đang sử dụng 91,7 m² ngoài diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.13] Như vậy, phần diện tích gia đình ông Nguyễn Văn C bị thu hồi và buộc tháo dỡ công trình để làm đường là đất ông C chiếm dụng thuộc quỹ đất công thuộc hành lang lưới điện, không nằm trong diện tích 131m² thuộc thửa 146 mà gia đình ông C được cấp giấy năm 1999. Ông Nguyễn Văn C cho rằng phần diện tích đất này nằm hoàn toàn trong diện tích được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh. Do đó, hộ ông Nguyễn Văn C không đủ điều kiện để bồi thường về đất.
[2.14] Về đề nghị bồi thường tài sản trên đất: Theo quy định tại Điều 14, Quyết định số 10/2017 của UBND thành phố H: “Hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11, 12, 13 của Quy định này đối với các nhà, công trình xây dựng trước 15/10/1993 vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai và cắm mốc giới nhưng được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có văn bản xử lý, ngăn chặn của cấp có thẩm quyền.”
[2.15] Trường hợp của ông Nguyễn Văn C có hành vi lấn, chiếm sử dụng đất thuộc hành lang lưới điện mặc dù hiện nay không thu giữ được Biên bản vi phạm nhưng theo UBND xã T thì thôn và xã có lập biên bản vi phạm, do thời gian đã lâu không còn lưu trữ, mặt khác, việc tháo dỡ tài sản trên đất là do gia đình ông C tự tháo dỡ theo chủ trương xây dựng nông thôn mới, các hộ dân tự nguyện hiến đất và tháo dỡ công trình để mở rộng đường thôn, người hưởng lợi trước hết là người dân trong đó có gia đình ông Nguyễn Văn C. Do vậy, không thuộc trường hợp được bồi thường theo quy định tại Quyết định số 10/2017 của UBND thành phố H.
[2.16] Vì vậy, Thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T thông báo về kết quả giải quyết đơn của công dân và Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 29/10/2019 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết khiếu nại thông báo số 71a/TB-UBND ngày 30/11/2018 của UBND xã T (lần đầu), Quyết định số 1715/QĐ-UBND ngày 25/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện P về việc giải quyết khiếu nại (Lần 2) của ông Nguyễn Văn C đối với yêu cầu bồi thường về đất, tài sản trên đất là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.17] Tuy nhiên, trong nội dung Điều 2 phần Quyết định có nội dung yêu cầu xã T thiết lập hồ sơ và xử lý dứt điểm đối với diện tích 97,3 m² sử dụng không hợp pháp (lấn đất công) của ông Nguyễn Văn C theo quy định của pháp luật đất đai là vượt quá nội dung giải quyết khiếu nại lần 2 theo quy định tại Điều 40 Luật khiếu nại 2011. Tuy nhiên, xét thấy nội dung này chỉ là nội dung mang tính nội bộ, chỉ đạo của cấp trên đối với cấp dưới. Chưa phải là quyết định hành chính ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng ngay tới quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn C. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ đề nghị Chủ tịch UBND huyện P rút kinh nghiệm là phù hợp.
[2.18] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C là có căn cứ. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phúc thẩm về việc giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn C; Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 395/2023/HC-ST ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo biên lai số 0023016 ngày 30/01/2024.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
|
CÁC THẨM PHÁN |
||
|
Nguyễn Phương Hạnh |
Vũ Minh Tuấn |
Trần Thị Quỳnh |
Bản án số 429/2024/HC-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 429/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C - Chủ tịch UBND huyện P, Chủ tịch và UBND xã T về việc "Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
