|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 428/2024/DS-PT
Ngày: 30/8/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Sang
Bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 266/2024/TLPT-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 116/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 362/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi tạm trú: Tổ A, Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ 1, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N là bị đơn. Ông Lê Văn C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08-01-2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M trình bày:
Bà Nguyễn Ngọc M và vợ, chồng bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C là hàng xóm của nhau. Bà M có tham gia góp 02 dây hụi do bà N làm chủ, cụ thể:
Dây thứ nhất: Khui ngày 10-01-2020 âm lịch, hụi khui 2.000.000 đồng/tháng, gồm 17 phần, bà M tham gia 01 phần và đóng được 15 kỳ hụi sống, cụ thể: Kỳ thứ nhất đóng 1.450.000 đồng, kỳ thứ hai đóng 1.500.000 đồng, kỳ thứ ba, thứ tư đều đóng 1.430.000 đồng, các kỳ thứ năm, sáu, bảy, tám, chín, mười đều đóng 1.500.000 đồng, kỳ thứ mười một đóng 1.650.000 đồng, kỳ thứ mười hai đóng 1.600.000 đồng, kỳ thứ mười ba đóng 1.450.000 đồng, kỳ thứ mười bốn đóng 1.500.000 đồng, kỳ thứ mười lăm đóng 1.450.000 đồng. Tổng cộng là 20.960.000 đồng.
Dây thứ hai: Khui ngày 09-01-2021 âm lịch, hụi khui 2.000.000 đồng/tháng, gồm 20 phần, bà M tham gia 02 phần và đóng được 02 kỳ hụi sống, với số tiền đã đóng là 5.800.000 đồng (1.450.000 đồng/Kỳ X 02 kỳ X 02 phần). Trong tháng 02-2021 âm lịch, bà N bỏ nhà đi, không gom 02 dây hụi bà M tham gia nữa và không trả số tiền hụi bà M đã đóng.
Tổng cộng 02 dây hụi trên, bà N còn nợ bà M số tiền 26.760.000 đồng. Chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà M là 03 Giấy hụi, bà N có ghi số tiền bà M đóng hụi và ký tên vào các Giấy hụi này. Ngoài ra, bà N và ông Lê Văn C là vợ, chồng, việc bà M tham gia góp hụi với bà N trong khoảng thời gian dài nên ông C có biết và mục đích bà N mở các dây hụi để có tiền hoa hồng lo cho gia đình nên bà M khởi kiện yêu cầu bà N và ông C cùng có nghĩa vụ trả số tiền nợ hụi cho bà M.
Theo đơn khởi kiện ngày 08-01-2024, bà M yêu cầu bà N và ông C có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền nợ hụi 28.300.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà M thay đổi yêu cầu khởi kiện là chỉ yêu cầu bà N và ông C có nghĩa vụ trả cho bà M số tiền nợ hụi 26.760.000 đồng và không yêu cầu tính tiền lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Các Giấy khui hụi bà Nguyễn Ngọc M nộp cho Tòa án không ghi rõ họ tên chủ hụi nên không xác định được bà Nguyễn Thị N là chủ hụi và không xác định được bà Nguyễn Ngọc M có phải là người tham gia góp hụi hay không. Đồng thời, các Giấy khui hụi này không được chủ hụi và người tham gia góp hụi xác nhận
nên không có căn cứ để xác định bà M có tham gia hụi với bà N. Do đó, bà N không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu bà N và ông Lê Văn C trả số tiền nợ hụi 26.760.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày:
Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị N là vợ, chồng, đăng ký kết hôn năm 1982. Việc bà Nguyễn Ngọc M và bà Nguyễn Thị N có tham gia góp hụi với nhau hay không thì ông C không biết. Ông C là người dân không biết chữ, không biết viết, suốt ngày đi bắt cá dưới sông từ 05 giờ sáng đến trưa về nhà, chiều đến thì chăm sóc cây ăn trái trong vườn, vợ chồng không có con. Những chi phí trong gia đình cũng từ việc bán trái cây trong vườn, bắt cá đem đi bán và tiền trợ cấp thương binh hàng tháng của ông C. Gia đình ông C không thiếu thốn, không phải chi phí nhiều nên bà M và bà N có tham gia góp hụi với nhau hay không thì ông C không biết và không liên quan. Trong quá trình chung sống, ông C không nghe bà N nói gì về việc tham gia góp hụi với ai. Ngoài ra, ông C không ký hay điểm chỉ vào các chứng cứ bà M cung cấp cho Tòa án khi khởi kiện. Do đó, ông C không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M yêu cầu ông C và bà N trả số tiền nợ hụi 26.760.000 đồng.
Tại bản án số 116/2024/DS-ST ngày 11/6/2024 của TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc M về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C.
Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Ngọc M số tiền nợ hụi 26.760.000 đồng (hai mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Ghi nhận, bà Nguyễn Ngọc M không yêu cầu tính tiền lãi.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/6/2024 ông Lê Văn C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M yêu cầu ông C phải trả tiền hụi cho bà M.
Ngày 24/6/2024 bà Nguyễn Thị N kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M vì bà không có chơi hụi với bà M.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung,
thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà N; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M khởi kiện “tranh chấp hợp đồng góp hụi” với bị đơn bà Nguyễn Thị N tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bà N cho rằng bà có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nhưng hiện nay bà đang cư trú tại: Tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; việc Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án là không đúng thẩm quyền.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Mặc dù hiện tại bà N có đăng ký tạm trú tại tổ A, khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nhưng hiện tại bà vẫn còn hộ khẩu thường trú tại Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng với chồng là ông Lê Văn C. Sau khi bà N bị vỡ hụi thì các hụi viên đã khởi kiện bà N và yêu cầu bà N, ông C (chồng bà N) cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho nhiều người, trong đó có bà Nguyễn Ngọc M. Hiện tại ông C đang cư trú tại Tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mắt không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.
Bà N kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia phiên tòa, được coi như bà N đã từ bỏ quyền kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà N.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi bà M đã góp cho bà N, gồm 02 dây hụi với số tiền là 26.760.000 đồng. Chứng cứ bà M cung cấp là quyển sổ hụi do bà N giao; trong đó ghi 02 dây hụi bà M tham gia; mỗi tháng bà N góp hụi và bà N tự ghi số tiền hụi kêu hốt và số tiền phải đóng hàng tháng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M và cho rằng chứng cứ bà M cung cấp các giấy ghi hụi cho Toà án không ghi rõ họ và tên của chủ hụi có phải là bà hay không, không xác định được bà M có phải là người chơi hụi hay không. Đối với những chứng cứ bà M giao nộp thì bất kì ai cũng lập được và chứng cứ này không phải do bà là chủ hụi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C cho rằng việc bà N làm chủ nhiều dây hụi ông không có tham gia. Ông làm nghề đánh bắt cá, chăm sóc cây trái trong vườn, bản thân ông là thương binh, được hưởng trợ cấp của nhà nước hàng tháng. Những chi phí sinh hoạt trong gia đình từ việc bán cây trái trong vườn, bán cá, tiền trợ cấp thương binh hàng tháng của ông. Do đó, ông không đồng ý có trách nhiệm liên đới cùng bà N trả nợ hụi cho bà M.
[3] Xét kháng cáo không đồng ý có nghĩa vụ liên đới cùng bà N trả nợ hụi cho bà M của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- ông Lê Văn C; thấy rằng:
Bà Nguyễn Thị N làm chủ nhiều dây hụi tại địa phương khoảng hơn 10 năm (từ năm 2011 đến tháng 02-2021) thì ngưng và tuyên bố vỡ hụi sau đó bà N rời địa phương đi nơi khác sinh sống. Các dây hụi của bà N hàng tháng đều tổ chức khui hụi tại nhà bà N, ông C.
Qua xác minh các hụi viên tham gia góp hụi của bà N đều thể hiện: Khi mở hụi, bà N không lập danh sách các hụi viên tham gia để giao cho từng hụi viên; mỗi hụi viên tham gia dây hụi thì bà N giao cho 01 quyển sổ ghi dây hụi bao nhiêu tiền, ngày tháng năm mở hụi và tổng số hụi viên tham gia (tính là phần). Hàng
tháng, bà N đến nhà hụi viên gom hụi (nhận tiền hụi) thì tự ghi vào sổ hụi do bà cung cấp; ghi số tiền hụi kêu hốt và số tiền phải đóng.
Đến năm 2021 bà N ngưng các dây hụi và bỏ đi nhưng không thông báo cho các hụi viên biết và cũng không chốt nợ hụi với ai. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu bà N, ông C cùng có nghĩa vụ trả số tiền hụi bà M đã góp cho bà N tổng cộng là 26.760.000 đồng.
Xét thấy, đến hời điểm hiện nay bà N và ông C vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng, việc bà N tổ chức nhiều dây hụi trong nhiều năm tại nhà thì ông C đều biết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N và ông C cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M số tiền hụi 26.760.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Ông C kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn C; giữ nguyên bản án sơ thẩm
[6] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N, ông Lê Văn C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị N;
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn C.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 116/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19-02-2019 của Chính phủ về Họ,
hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc M về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C.
Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Ngọc M số tiền nợ hụi 26.760.000 đồng (hai mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Ghi nhận, bà Nguyễn Ngọc M không yêu cầu tính tiền lãi.
Kể từ ngày bà Nguyễn Ngọc M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C chưa thi hành xong số tiền trên thì bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Nguyễn Ngọc M 707.500 đồng (bảy trăm lẻ bảy nghìn, năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005771, ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn C được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - Phòng KTNV.TAT;
- - TAND huyện Tân Châu;
- - CCTHADS huyện Tân Châu;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu tập án; Lưu VP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 428/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 428/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
