|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Số: 428/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/5/2024 V/v: Xin ly hôn. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Long Hòa;
Bà Hoàng Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.
- Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đống Đa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 94/2024/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phan M, sinh 1986. HKTT: Số G, ngõ A V, phường N, quận T, Hà Nội. Nơi cư trú: Căn hộ B1112 chung cư I, phường T, quận T, Hà Nội (vắng mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh 1987. ĐKHTT: số B ngách A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Anh Nguyễn Phan M trình bày: Tôi kết hôn với chị Nguyễn Thị Minh H năm 2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường K, quận T, Hà Nội. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống với nhau đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm về cách sống, tính cách, vợ chồng không hòa hợp. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chúng tôi đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Tôi xác định vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn chị H. Tôi đã yêu cầu chị H cung cấp địa chỉ chị đang ở nhưng chị H cố tình không cung cấp.
Con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan S, sinh 10/9/2015. Hiện cháu đang ở với tôi. Ly hôn, tôi xin nuôi con không yêu cầu chị H cấp dưỡng.
Tài sản chung - Vay nợ: Không.
Chị Nguyễn Thị Minh H: Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng chị H không đến Tòa để giải quyết và cũng không có ý kiến gửi Tòa án. Tòa án không lấy được lời khai của chị H. Các thủ tục tố tụng đối với chị H đều được Tòa án thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (niêm yết, đăng tin qua phương tiện thông tin đại chúng...).
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn – anh Nguyễn Phan M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Chị Nguyễn Thị Minh H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Phan M đối với chị Nguyễn Thị Minh H. Con chung: Giao cháu Nguyễn Phan S cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng. Anh M không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Tài sản chung - Vay nợ: Không. Án phí: Anh M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về thủ tục tố tụng – Thẩm quyền:
- Đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo anh Nguyễn Phan M đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Phan M đối với chị Nguyễn Thị Minh H, sinh 1987. ĐKHTT: số B ngách A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn (anh M) có đơn xin vắng mặt. Bị đơn – chị H vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử bình thường vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[II] Xét yêu cầu “Xin ly hôn” của anh Nguyễn Phan M đối với chị Nguyễn Thị Minh H, Hội đồng xét xử thấy:
Theo anh Nguyễn Phan M trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Minh H năm 2013 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường K, quận T, Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm về cách sống, tính cách, vợ chồng không hòa hợp. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Anh M xác định vợ chồng không còn tình cảm và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Do chị H giấu địa chỉ nên Tòa án không lấy được lời khai, chị H không đến Tòa giải quyết nên Tòa án không hòa giải được. Các thủ tục tố tụng đối với chị H đều đã được Tòa án thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua lời trình bày của đương sự, qua điều tra thu thập chứng cứ thể hiện: Thời gian, điều kiện kết hôn của anh M với chị H đúng như anh M đã trình bày. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân từ 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa.
Xét thấy: Cuộc sống chung vợ chồng giữa anh M và chị H không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc anh M xin ly hôn là phù hợp với thực tế, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M. Cho anh M được ly hôn chị H.
Con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan S, sinh 10/9/2015. Hiện cháu S đang ở với anh M. Ly hôn, anh M xin nuôi con không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Xét thấy, hiện cháu S đang do anh M nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu muốn ở với bố. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu S, tránh bị xáo trộn trong sinh hoạt, ổn định tâm lý cho cháu S và cũng đáp ứng nguyện vọng của cháu, Hội đồng xét xử xét thấy nên giao cháu S cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh M không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi đến khi anh M yêu cầu hoặc có sự thay đổi, thỏa thuận khác.
Tài sản chung - Vay nợ: Không.
[III] Về án phí: Anh M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4, Điều 147; Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu “Xin ly hôn” của anh Nguyễn Phan M đối với chị Nguyễn Thị Minh H. Cho anh M được ly hôn chị H.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan S, sinh 10/9/2015.
Giao cháu Nguyễn Phan S cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng. Anh M không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi đến khi anh M yêu cầu hoặc có sự thay đổi, thỏa thuận khác.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản.
- Tài sản chung - Vay nợ: Không.
- Về án phí: Anh M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị A – Đại diện theo ủy quyền của anh M đã nộp theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 938813 ngày 30/01/2024 của Công ty Cổ phần T. Anh M đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận: - TAND Tp. H;
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị An. |
Bản án số 428/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hôn nhân gia đình (xin ly hôn)
- Số bản án: 428/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình (Xin ly hôn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Phan M - Nguyễn Thị Minh H
