TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 428/2024/DS-PT
Ngày: 15-5-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Các Thẩm phán:
- Bà Võ Thị Kim Thương
- Bà Phạm Thị Kim
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 435/2023/DS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1362/2024/QĐPT-DS ngày 14/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 4643/2024/QĐ-PT ngày 11/4/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N
- Trụ sở: A T, Phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
- Địa chỉ Chi nhánh N1: Tầng A (trệt), tầng 2, tầng 3, tầng D, Tòa nhà V, P, khu đô thị M, số B N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1987 (Giấy ủy quyền số: 4923/UQ-VCB-NSG ngày 07/11/2023).
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị Phương L, sinh năm 1991
- Địa chỉ: Căn hộ A Cao ốc B đường N, Phường C (nay là Phường B) Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP N là nguyên đơn.
- (Bà M có mặt, bà L vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Thị M là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 25/3/2019, Ngân hàng TMCP N (sau đây gọi là V) và bà Phạm Thị Phương L ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V và hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V, các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Loại thẻ tín dụng: V, số thẻ V018000 5599, mục đích sử dụng: tiêu dùng cá nhân, tài sản bảo đảm: Không có. Hạn mức thẻ tín dụng được cấp ngày 26/3/2019 là 50.000.000 đồng, ngày 13/4/2020 cấp lại hạn mức thẻ tín dụng là 49.000.000 đồng. Phương thức thanh toán: T nợ từ tài khoản thanh toán của bà L, số tài khoản 0181003616723 tại V.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 587.760.805 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà L đã thanh toán cho V số tiền 541.941.680 đồng, thứ tự thanh toán nợ tổng số tiền được áp dụng theo Điều 4 của hợp đồng phát hành thẻ. Sau đó, bà L ngưng không thanh toán nên ngày 05/6/2020 V tiến hành khóa thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 48.960.000 đồng sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn từ ngày 20/6/2020.
Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả ngay một lần cho V tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/10/2023 là 257.777.691 đồng, trong đó nợ gốc gồm: 48.960.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 29.882.553 đồng, phí chậm thanh toán: 141.847.400 đồng, phí vượt hạn mức: 37.087.738 đồng. Tiền lãi, tiền phí vượt hạn mức tín dụng và tiền phí chậm thanh toán tiếp tục phát sinh kể từ ngày 25/10/2023 cho đến khi bà L trả hết nợ gốc cho nguyên đơn.
Bị đơn bà L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng như không có văn bản phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 435/2023/DS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N
Buộc bà Phạm Thị Phương L phải trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tính đến ngày 24/10/2023 là 78.842.553 đồng trong đó nợ gốc gồm: 48.960.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 29.882.553 đồng. Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 25/10/2023, bà L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V và hợp đồng phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ký ngày 25/3/2019 giữa Ngân hàng TMCP N và bà L cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N về việc yêu cầu bà Phạm Thị Phương L phải trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số phí là 178.935.138 đồng, trong đó phí chậm thanh toán: 141.847.400 đồng, phí vượt hạn mức: 37.087.738 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Ngày 07/11/2023, nguyên đơn là V kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo.
- Bà M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng các bên đã ký thì có thỏa thuận về phí chậm thanh toán và phí vượt hạn mức tín dụng cũng như các loại phí được quy định tại Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N2. Do vậy, nguyên đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 7.
- - Bị đơn là bà Phạm Thị Phương L vắng mặt.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị:
- Về tố tụng:
- Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật.
- Về nội dung:
- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần về mức phí chậm thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 435/2023/DS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 07/11/2023, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đơn kháng cáo của đương sự trong hạn luật định nên hợp lệ.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn là bà Phạm Thị Phương L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về nội dung:
[3.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm chấp nhận phí chậm thanh toán tạm tính đến ngày 24/10/2023 là số tiền 141.847.400 đồng và phần phí vượt hạn mức tạm tính đến ngày 24/10/2023 là: 37.087.738 đồng.
[3.2] Xét, kháng cáo về phí chậm thanh toán tạm tính đến ngày 24/10/2023 là số tiền 141.847.400 đồng:
Căn cứ Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N2, tại Điều 5 quy định về phí dịch vụ thẻ: “Chỉ tổ chức phát hành thẻ được thu phí của chủ thẻ. Tổ chức phát hành thẻ thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ”.
Căn cứ điểm 4.5 Điều 4 của Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ngày 25/3/2019 giữa V và bà L, quy định: “Phí không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu, nếu đến ngày đề nghị thanh toán chủ thẻ không trả hoặc trả số tiền nhỏ hơn số tiền thanh toán tối thiểu mà Ngân hàng yêu cầu, chủ thẻ sẽ chịu phí không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu theo quy định của Ngân hàng tính trên phần số tiền thanh toán tối thiểu chưa thanh toán”. Tại điểm 7 Biểu phí phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế có sự thỏa thuận giữa V và bà L quy định mức phí là 3% số tiền thanh toán tối thiểu chưa thanh toán. Theo quy định tại điểm 1.26 Điều 1 của Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Số tiền thanh toán tối thiểu là khoản tiền tối thiểu chủ thẻ phải thanh toán cho ngân hàng trong mỗi kỳ sao kê”.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn cung cấp bảng chi tiết tính phí phạt chậm thanh toán thì từ ngày 20/7/2020, bà L không thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu theo bảng sao kê hàng tháng cho ngân hàng. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản phí phạt chậm trả trên số tiền thanh toán tối thiểu kể từ ngày vi phạm tạm tính đến ngày 24/10/2023 là 141.847.400 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3.3]Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về phí vượt hạn mức tạm tính đến ngày 24/10/2023 là: 37.087.738 đồng:
Căn cứ điểm 1.21 Điều 1 Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ký ngày 25/3/2019 giữa V và bà L, quy định: “Hạn mức tín dụng là hạn mức tuần hoàn quy định số tiền tối đa mà chủ thẻ được Ngân hàng cho phép sử dụng trong một thời hạn nhất định”. Tại Biểu phí phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế chỉ quy định phí vượt hạn mức tín dụng: vượt hạn mức từ ngày 16 trở đi là 15%/năm (số tiền vượt quá hạn mức). Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn xác định hạn mức tín dụng của bà L, sau khi điều chỉnh ngày 13/4/2020 là 49.000.000 đồng, đến ngày 05/6/2020 V tiến hành khóa thẻ, thì dư nợ gốc là 48.960.000 đồng. Như vậy, kể từ thời điểm khóa thẻ
thì khách hàng đã không còn sử dụng hạn mức tín dụng. Phía đại diện nguyên đơn cho rằng hạn mức tín dụng được tính bao gồm cả dư nợ gốc cộng lãi chưa thanh toán để tính phí vượt hạn mức là không có cơ sở chấp nhận.
[3.4] Từ những phân tích và căn cứ quy định pháp luật nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần về mức phí không thanh toán đúng hạn. Cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn không đưa ra được căn cứ chứng minh việc tính phí chậm thanh toán được quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật nào để không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về phần phí chậm thanh toán là không đúng quy định. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 435/2023/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
[4] Về án phí dân sự:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm thì phải xác định lại nghĩa vụ chịu án phí theo quy định:
Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 11.034.497 đồng.
Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 1.854.386 đồng, được được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ngân hàng đã nộp 2.754.122 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0015085 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. H lại cho nguyên đơn số tiền 899.736 đồng.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm thì nguyên đơn không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. H lại tạm ứng án phí phúc thẩm cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, Điều 296, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Căn cứ vào Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N2; Căn cứ vào Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N.
- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 435/2023/DS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N về việc yêu cầu bà Phạm Thị Phương L phải trả cho Ngân hàng TMCP N phí vượt hạn mức: 37.087.738 đồng.
- Về án phí dân sự:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0037713 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Buộc bà Phạm Thị Phương L phải trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tính đến ngày 24/10/2023 là 220.689.953 đồng (hai trăm hai mươi triệu sáu trăm tám mươi chín ngàn chín trăm năm mươi ba đồng), trong đó nợ gốc gồm: 48.960.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 29.882.553 đồng, phí chậm thanh toán là: 141.847.400 đồng.
Kể từ ngày 25/10/2023, bà L còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V và hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế V ký ngày 25/3/2019 giữa Ngân hàng TMCP N và bà Phạm Thị Phương L cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Bà Phạm Thị Phương L phải nộp số tiền 11.034.497 đồng (mười một triệu không trăm ba mươi bốn ngàn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
Ngân hàng TMCP N phải nộp số tiền: 1.854.386 đồng (một triệu tám trăm năm mươi bốn ngàn ba trăm tám mươi sáu đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ngân hàng đã nộp 2.754.122 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0015085 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. H lại cho nguyên đơn số tiền 899.736 đồng (tám trăm chín mươi chín ngàn bảy trăm ba mươi sáu đồng).
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan H1 |
Bản án số 428/2024/DS-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 428/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
