Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 428/2025/HS-PT

Ngày 17/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mai;
Ông Ong Thân Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy H, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 279/2025/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Vi Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2025/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Bị cáo có kháng cáo:

Vi Mạnh C, sinh năm 1985; nơi thường trú và nơi ở: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Bản H1, xã K, tỉnh Bắc Ninh); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Vi Hoài T, sinh năm 1959 và bà Diệp Thị S, sinh năm 1959; có vợ: Lư Thị D, sinh năm 1988; có 03 con lớn (con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014).

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 225/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh) xử phạt Vi Mạnh C 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm; tính đến ngày phạm tội mới, bị cáo chưa hết thời gian thử thách, chưa được xoá án tích; tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2024; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh B; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thanh T1, Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị hại, người liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị; người làm chứng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2017 đến năm 2020, Vi Mạnh C làm Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần N1 tại Bắc Giang, có chức năng làm thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động. Ngoài ra, C còn thành lập và làm Giám đốc Công ty Đ, trụ sở tại xã Đ, thành phố B, hoạt động về tư vấn du học, xuất khẩu lao động. Trong thời gian này, C có làm thủ tục cho một số người đi du học, xuất khẩu lao động, trong đó có đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Do đó, C biết về cách thức tư vấn, làm thủ tục hồ sơ đưa người đi lao động Hàn Quốc. Đến cuối năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc đưa người đi lao động ở nước ngoài gặp khó khăn, Công ty Đ - VMC GR của C dừng hoạt động, C làm công việc tự do và không còn làm công việc liên quan đến tư vấn đưa người đi xuất khẩu lao động.

Từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 7 năm 2024, C làm cộng tác viên cho Công ty S1 tại thành phố B. Mặc dù không còn làm công việc liên quan đến đưa người đi xuất khẩu lao động và không có khả năng làm thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nhưng C đã nói dối những người có nhu cầu xuất khẩu lao động là bản thân có khả năng làm thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đồng thời C đưa ra mức chi phí từ 120.000.000 đồng đến 149.000.000 đồng/1 người, trong đó phải nộp trước 60.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào được đi xuất khẩu lao động đến Hàn Quốc thì phải nộp đủ, thời gian làm thủ tục từ 03 đến 06 tháng. Để tạo sự tin tưởng, C nói dối những người liên hệ đến làm thủ tục đi lao động tại Hàn Quốc là C có bạn người Hàn Quốc nên mỗi năm có từ 7 đến 9 xuất đi lao động tại Hàn Quốc theo hình thức luân chuyển công nhân giữa hai Công ty của Việt Nam và Hàn Quốc, mức lương nhận hàng tháng tương đương từ 45 đến 52 triệu đồng tiền Việt Nam. Hồ sơ phải nộp để làm thủ tục, gồm: Hộ chiếu, Lý lịch tư pháp, Đơn xin xác nhận nhân sự, Hợp đồng bảo lãnh người lao động, Đơn xin tự nguyện làm việc tại Hàn Quốc, Sơ yếu lý lịch, Bản cam kết gửi Công ty Cổ phần N1 để điền thông tin cá nhân, xin xác nhận của chính quyền địa phương.

Bằng thủ đoạn nêu trên, từ tháng 10/2023 đến tháng 6/2024, Vi Mạnh C đã chiếm đoạt của 07 bị hại với tổng số tiền là 621.200.000 đồng, cụ thể như sau:

1. Chiếm đoạt của bà Đinh Thị H2, sinh năm 1978, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh), số tiền 60.000.000 đồng:

Năm 2017, bà H2 nhờ C làm thủ tục cho con trai là anh Nguyễn Tường A, sinh năm 1999 đi du học tại Đài Loan nên quen biết C. Sau khi anh A đi du học về, do gia đình có nhu cầu cho anh A đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nên ngày 17/10/2023 bà H2 cùng em trai ruột là anh Đinh Văn H3, sinh năm 1984 đưa anh Nguyễn Trường A1 đến gặp C tại thành phố B đặt vấn đề nhờ C làm giúp thủ tục đi lao động tại Hàn Quốc. C nói dối là có khả năng làm thủ tục đưa được anh A1 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc với chi phí là 140.000.000 đồng, nộp trước là 60.000.000 đồng. Do tin tưởng C, bà H2 đã nộp cho C số tiền 60.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho anh A1 đi lao động tại Hàn Quốc mà chi tiêu cá nhân hết. Ngày 16/8/2024, bà H2 gửi đơn tố giác C tại Công an thành phố B.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vi Mạnh C thu giữ nhiều giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan việc C nhận đưa người đi xuất khẩu lao động (BL 92-93, 544-586).

Về trách nhiệm dân sự: C trả được cho bà H2 số tiền 32.000.000 đồng, bà H2 yêu cầu C tiếp tục bồi thường số tiền 28.000.000 đồng.

2. Chiếm đoạt của anh Đinh Văn H3, sinh năm 1984, trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 60.000.000 đồng:

Ngày 17/10/2023, khi anh Đinh Văn H3 đi cùng chị ruột là bà Đinh Thị H2 đến gặp C để nhờ làm thủ tục cho anh A1, anh H3 được nghe C tư vấn về thủ tục, chi phí và mức lương được nhận khi đi lao động tại Hàn Quốc. Do tin tưởng C và đang có nhu cầu đi lao động tại Hàn Quốc, anh H3 đã đặt vấn đề nhờ C giúp. C đồng ý với mức chi phí như đối với anh Nguyễn Trường A1. Ngày 24/11/2023, anh H3 cùng anh Nguyễn Trường A1 đến gặp C tại thành phố B, anh H3 đã nộp cho C số tiền 60.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, C viết biên nhận cho anh H3. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho anh H3 đi lao động tại Hàn Quốc mà chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 16/8/2024, anh Đinh Văn H3 giao nộp 01 giấy nhận tiền đề ngày 24/11/2023 có nội dung “C nhận của anh H3 số tiền 60.000.000 đồng để tham gia đi lao đồng thời vụ nông nghiệp Hàn Quốc”.

Tại Bản kết luận giám định số 2098 ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận chữ ký, chữ viết trên tài liệu giám định (trừ chữ ký, chữ viết mang tên Đinh Văn H3) là của Vi Mạnh C (BL 94-99).

Về trách nhiệm dân sự: C đã trả cho anh H3 số tiền 32.000.000 đồng, anh H3 yêu cầu C tiếp tục bồi thường số tiền 28.000.000 đồng.

3. Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1975, trú tại: Thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 145.000.000 đồng:

Cuối tháng 10/2023, bà Nguyễn Thị X biết bà Nguyễn Thị H4 đang nhờ Vi Mạnh C làm thủ tục cho con trai là anh Nguyễn Trường A1 đi lao động tại Hàn Quốc. Do có nhu cầu cho con trai là anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1994 đi lao động tại Hàn Quốc, bà X đã liên hệ nhờ C làm thủ tục. Sau khi được C cam kết bản thân có thể làm được thủ tục cho anh Nguyễn Xuân T2 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc với chi phí là 149.000.000 đồng, nộp trước là 60.000.000 đồng. Do tin tưởng C, ngày 20/10/2023 bà X đã nộp cho C 60.000.000 đồng, khi nhận tiền C có viết giấy biên nhận đưa cho bà X giữ. Ngày 23/10/2023, bà X chuyển khoản thêm cho C số tiền 850.000 đồng để chi phí khám sức khoẻ cho anh T2.

Đến tháng 12/2023, do bà X cũng có nhu cầu đi lao động lại Hàn Quốc lên đã liên hệ đến gặp C nhờ làm thủ tục giúp. C đồng ý với chi phí tương tự như trường hợp của anh T2. Ngày 15/12/2023, bà X đã chuyển khoản nộp cho C số tiền 20.000.000 đồng. Đến ngày 12/01/2024, bà X nhờ con trai là anh Nguyễn Xuân T2 nộp thêm cho C số tiền 40.000.000 đồng. Khi nhận tiền, C đều viết biên nhận đưa cho bà X giữ. Sau đó, theo yêu cầu của C, ngày 23/01/2024, bà X đã chuyển khoản cho C số tiền 850.000 đồng để chi phí khám sức khỏe và ngày 29/02/2024, bà X chuyển cho C số tiền 800.000 đồng để làm học bạ phổ thông trung học và bằng cấp 3 do bà X không có giấy tờ này. Đến đầu tháng 4 năm 2024, C nói dối bà X là phải nộp 20.000.000 đồng để đặt vé máy bay, không thì giá vé sẽ tăng và nộp 2.500.000 đồng để làm hồ sơ nếu muốn vay vốn từ Công ty. Bà X đã nhờ anh T2 chuyển khoản 22.500.000 đồng cho C. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho anh T2 và bà X đi lao động tại Hàn Quốc mà chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 16/8/2024, bà Nguyễn Thị X giao nộp 01 giấy nhận tiền đề ngày 15/12/2023 và 01 giấy nộp cọc đi lao động Hàn Quốc đề ngày 12/01/2024.

Tại Bản kết luận giám định số 2098 ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận chữ ký, chữ viết trên tài liệu giám định (trừ chữ ký, chữ viết của anh Nguyễn Xuân T2) là của Vi Mạnh C (BL 35-36, 41, 50-81, 106-112, 498-539).

Về trách nhiệm dân sự: C đã khắc phục trả bà X số tiền 131.000.000 đồng, bà X yêu cầu C bồi thường tiếp số tiền 14.000.000 đồng còn chiếm đoạt.

4. Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1976, trú tại: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 82.500.000 đồng:

Đầu tháng 12/2023, thông qua bà Nguyễn Thị X, bà N biết bà X đang nhờ Vi Mạnh C làm thủ tục đi lao động tại Hàn Quốc. Do cũng có nhu cầu đi lao động tại Hàn Quốc, bà N đã liên hệ gặp C để làm thủ tục thì được C cam kết có khả năng làm thủ tục cho bà N đi lao động tại Hàn Quốc, với chi phí là 148.000.000 đồng, đặt cọc trước 60.000.000 đồng. Do tin tưởng C, ngày 21/12/2023 và ngày 12/01/2024, bà N đã nộp cho C số tiền 20.000.000 đồng và 40.000.000 đồng. Khi nhận tiền, C có viết biên nhận tiền đưa cho bà N giữ. Đến cuối tháng 3 năm 2024, C nói dối bà N là phải nộp 20.000.000 đồng để đặt vé máy bay nếu không giá vé sẽ tăng và nộp 2.500.000 đồng để làm hồ sơ nếu muốn vay vốn từ công ty. Do tin tưởng C, bà N đã nộp thêm cho C số tiền 22.500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho bà N đi lao động tại Hàn Quốc mà chi tiêu cá nhân hết (BL 113-117).

Về trách nhiệm dân sự: C đã khắc phục trả cho bà N số tiền 82.500.000 đồng.

5. Chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1977, trú tại: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 83.700.000 đồng:

Tháng 12/2023, bà H5 biết việc bà Nguyễn Thị N đang nhờ Vi Mạnh C làm thủ tục đi lao động tại Hàn Quốc. Do có nhu cầu đi lao động tại Hàn Quốc, bà H5 đã liên hệ gặp C để nhờ làm thủ tục thì được C tư vấn, cam kết có khả năng làm thủ tục cho bà H5 đi lao động tại Hàn Quốc với chi phí là 148.000.000 đồng, đặt cọc trước 60.000.000 đồng. Do tin tưởng C, ngày 02/01/2024 và ngày 05/01/2024, bà H5 đã nộp cho C số tiền 20.000.000 đồng và 40.000.000 đồng. Khi nhận tiền, C có viết giấy biên nhận đưa cho bà H5 giữ. Sau đó, theo yêu cầu của C, ngày 31/01/2024, bà H5 đã nộp cho C số tiền 700.000 đồng để làm bằng tốt nghiệp THPT và ngày 29/02/2024 nộp cho C số tiền 500.000 đồng để làm học bạ cấp 3. Đến đầu tháng 4/2024, C nói dối bà H5 là phải nộp số tiền 20.000.000 đồng để đặt vé máy bay nếu không thì giá vé sẽ tăng và nộp 2.500.000 đồng để làm hồ sơ nếu muốn vay vốn từ công ty. Ngày 08/4/2024 bà H5 đã nhờ con dâu là chị Nguyễn Thu P, sinh năm 2000 chuyển khoản cho C số tiền 22.500.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho bà H5 đi lao động tại Hàn Quốc mà chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 13/8/2024, bà H5 giao nộp 01 giấy nhận cọc đề ngày 03/01/2024 và 01 giấy cam kết giữa Vi Mạnh C với Nguyễn Trường A1, Đinh Văn H3, Nguyễn Thị X, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị N đề ngày 07/6/2024.

Tại Bản kết luận giám định số 2098 ngày 30/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận chữ ký, chữ viết trên tài liệu giám định (trừ chữ ký, chữ viết của A1, H3, X, T2, H5, N) là của Vi Mạnh C (BL 100-105, 587-714).

Về trách nhiệm dân sự: C đã khắc phục trả cho bà Hằng số tiền 50.000.000 đồng, bà H5 yêu cầu C bồi thường tiếp số tiền 33.700.000 đồng.

6. Chiếm đoạt của vợ chồng anh Phạm Văn H6, sinh năm 1990, chị Nguyễn Thị Huyền T3, sinh năm 1992, trú tại: Đ, thôn N, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên số tiền 120.000.000 đồng:

Khoảng tháng 6/2024, thông qua anh Nguyễn Đức A2, sinh năm 1984 (trú tại: Tổ B, phường L, quận L, thành phố Hà Nội) giới thiệu nên vợ chồng anh H6, chị T3 biết và liên hệ đặt vấn đề nhờ Vi Mạnh C làm thủ tục cho anh H6 và chị T3 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. C đã nói dối anh H6, chị T3 là C có khả năng đưa vợ chồng anh H6, chị T3 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc với tổng chi phí của mỗi người là 148.000.000 đồng, mỗi người phải nộp trước 60.000.000 đồng, số còn lại phải nộp đủ khi được đi Hàn Quốc. Do tin tưởng C, ngày 08/6/2024 vợ chồng anh H6, chị T3 đã gặp C tại thành phố B và nộp trước cho C số tiền 10.000.000 đồng. Sau đó, từ ngày 09 đến ngày 22/6/2024, vợ chồng anh H6, chị T3 đã nhiều lần chuyển khoản tiền để nộp cho C, với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho vợ chồng anh H6, chị T3 đi lao động tại Hàn Quốc mà dùng trả nợ cho các bị hại N, X, T2, H4, H3, H5 mỗi người một phần, số tiền còn lại sử dụng chi tiêu cá nhân hết (BL 118-126, 353-497).

Về trách nhiệm dân sự: Anh H6 yêu cầu C bồi thường số tiền 120.000.000 đồng đã chiếm đoạt.

7. Chiếm đoạt của anh Hoàng Đình T4, sinh năm 1982; trú tại Thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng số tiền 70.000.000 đồng:

Khoảng tháng 4/2024, do có nhu cầu đi lao động tại Hàn Quốc, thông qua anh Phạm Văn T5, sinh năm 1990, ở thôn T, xã T, huyện T, Hải Phòng, anh T4 được anh T5 giới thiệu có bạn là Vi Mạnh C làm tư vấn xuất khẩu đi lao động nước ngoài, anh T4 đã liên hệ gặp Vi Mạnh C để được tư vấn. Khi tư vấn, C cam kết có khả năng làm thủ tục cho anh T4 đi lao động tại Hàn Quốc với chi phí 148.000.000 đồng, đặt cọc trước 60.000.000 đồng để làm các thủ tục, khi nào có visa được bay đi Hàn Quốc thì nộp số tiền còn lại. Do tin tưởng C, anh T4 đã đến gặp C tại thành phố B và nộp cho C số tiền 60.000.000 đồng. Khi nhận tiền, C có viết giấy biên nhận nội dung “nhận của anh Hoàng Đình T4 số tiền 60.000.000 đồng để làm thủ tục đi lao động thời vụ tại Hàn Quốc” giao cho anh T4 giữ. Khoảng hơn 01 tháng sau, C yêu cầu anh T4 nộp thêm số tiền 10.000.000 đồng để sau sẽ trừ vào tiền vé máy bay. Anh T4 đã nhờ vợ là chị Nguyễn Thị M chuyển khoản cho C số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, C không làm thủ tục cho anh T4 đi lao động tại Hàn Quốc mà dùng trả nợ cho các bị hại N, X, T4, H4, H3, H5 mỗi người một phần, còn lại chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/8/2024, anh Hoàng Đình T4 giao nộp 01 giấy (bản in hình ảnh) nội dung “Giấy nhận tiền” đề ngày 04/5/2024, nội dung Vi Mạnh C nhận số tiền 60.000.000 đồng của anh Hoàng Đình T4 để làm thủ tục đi lao động tại Hàn Quốc (BL 127-133, 293-352).

Về trách nhiệm dân sự: Anh T4 yêu cầu C bồi thường số tiền 70.000.000 đồng đã chiếm đoạt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2025/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vi Mạnh C 12 (Mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/8/2024.

Căn cứ khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù của bản án số 255/202/HS-ST ngày 17/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (Mười lăm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/8/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam của Bản án số 255/202/HS-ST từ ngày 06/9/2021 đến ngày 17/12/2021.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về trách nhiệm dân sự, lãi suất chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 06/8/2025, bị cáo Vi Mạnh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Vi Mạnh C giữ nguyên nội dung kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết.

- Quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vi Mạnh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật và sau khi nhận định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo đã tuyên phạt bị cáo 12 năm 06 tháng tù, tổng hợp hành hình phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù của Bản án số 225/202/HS-ST ngày 17/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (Mười lăm) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo C. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vi Mạnh C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Luật sư Nguyễn Thanh T1 bào chữa cho bị cáo nhất trí về điều luật và khung hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, luật sư cho rằng mức hình phạt 12 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nghiêm khắc, bị cáo là người dân tộc nên trình độ hiểu biết về pháp luật hạn chế, số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn và đã khắc phục được hơn một nửa cho người bị hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ đang tuổi ăn học, gia đình bị cáo có công với cách mạng

và đang thờ cúng liệt sỹ; quá trình điều tra cũng như tại các phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đơn kháng cáo của bị cáo Vi Mạnh C được gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định; phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như được thẩm tra công khai tại phiên tòa; có đủ cơ sở kết luận:

Từ tháng 10/2023 đến tháng 7/2024, C làm cộng tác viên cho Công ty S1 tại thành phố B. Mặc dù, biết rõ bản thân không còn làm công việc liên quan đến đưa người đi xuất khẩu lao động và không có khả năng làm thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nhưng do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Vi Mạnh C đã đưa ra thông tin gian dối là bản thân có khả năng làm thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, C có bạn là người Hàn Quốc nên mỗi năm có từ 7 đến 9 suất đi lao động tại Hàn Quốc theo hình thức luân chuyển công nhân giữa hai Công ty của Việt Nam và Hàn Quốc, mức lương nhận hàng tháng tương đương từ 45.000.000 đồng đến 52.000.000 đồng tiền Việt Nam và mức chi phí mỗi người từ 120.000.000 đồng đến 149.000.000 đồng. Bị cáo C đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết về thủ tục xuất khẩu lao động, đi du học tại nước ngoài của những người bị hại và bằng thủ đoạn trên C đã chiếm đoạt của 07 người bị hại với tổng số tiền là 621.200.000 đồng (Sáu trăm hai mươi mốt triệu, hai trăm nghìn đồng).

Do có hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vi Mạnh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

[2.2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của Vi Mạnh C là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vi Mạnh C đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo ra đầu thú và đã khắc phục được hơn 1/2 hậu quả đối với người bị hại; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo tham gia nhiều công tác thiện nguyện, năm 2019 tặng 50 chiếc áo khoác mùa đông cho 50 hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn trị giá 22.500.000 đồng (có xác nhận của UBND xã K), ủng hộ xây dựng di tích lịch sử văn hóa Đ, xã K số tiền 5.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, năm 2021 bị cáo C bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách nên chưa được xóa án tích; lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Mạnh C và xử phạt Vi Mạnh C 12 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; đồng thời tổng hợp với hình phạt 02 năm 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 225/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (Mười lăm) năm tù là đúng quy định pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo C không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ gì đặc biệt mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Vi Mạnh C như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa.

[3]. Về án phí:

Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Vi Mạnh C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vi Mạnh C; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2025/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phần hình phạt đối với bị cáo Vi Mạnh C. Cụ thể:

Tuyên bố: Bị cáo Vi Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

Bị cáo Vi Mạnh C 12 (Mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/8/2024.

Căn cứ khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 56 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù của bản án số 225/2021/HS-ST ngày 17/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh). Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/8/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam của Bản án số 225/2021/HS-ST từ ngày 06/9/2021 đến ngày 17/12/2021.

2. Về án phí:

Bị cáo Vi Mạnh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác

của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 TANDTC;
  • - Viện Công tố và KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - TTG số 2 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Hải

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Mai Ong Thân Thắng Hoàng Thị Bích Hải
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 428/2025/HS-PT ngày 17/10/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 428/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Mạnh C "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger