Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 427/2024/DS-ST

Ngày: 26/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Quản;
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 682/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 917/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Yến H, sinh năm 1960– có đơn xin vắng mặt.
  2. Địa chỉ: 3 đường D, tổ B, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Trương Thị Đ, sinh năm 1959 có đơn xin vắng mặt.
  4. Địa chỉ: 2 tổ E, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Trần Yến H trình bày:

Vào năm 2015 đến nay, bà Trần Yến H có cho bà Trương Thị Đ nhiều lần mượn tiền.

Ngày 25/01/2019, bà H với bà Đ có làm giấy mượn tiền để chốt lại tính đến thời điểm đó bà Đ còn nợ tiền bà H số tiền là 574.000.000 đồng.

Đến ngày 22/01/2022, bà Đ có trả cho bà H số tiền là 350.000.000 đồng.

Nay bà H yêu cầu Tòa án buộc bà Đặng t số tiền còn nợ là 224.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn bà Trương Thị Đ trình bày:

Đặng xác n có nhiều lần mượn tiền bà H. Giấy mượn tiền ngày 25/01/2019 là tổng tiền gốc và lãi chốt lại là 574.000.000 đồng chứ không phải mới mượn số tiền này.

Ngày 22/01/2022, bà Đ với bà H có thỏa thuận là nếu bây giờ trả 350.000.000 đồng là coi như hết nợ nên đã trả 350.000.000 đồng.

Nay bà H yêu cầu trả số tiền còn lại là 224.000.000 đồng thì bà Đ không đồng ý. Hiện tại bà Đ không có tiền, mọi chi phí sinh hoạt đều nhờ con nên cũng không có tiền trả nợ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Trần Yến H khởi kiện yêu cầu bà Trương Thị Đặng t1 tiền đã vay. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đang cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Yến H và bà Trương Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về chứng cứ:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Do đó, Tòa án giải quyết vụ kiện theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp đã đủ cơ sở xác định.

Trần Yến H có cho bà Trương Thị Đ nhiều lần mượn tiền. Đến ngày 25/01/2019, bà H với bà Đ có làm giấy mượn tiền để chốt lại số tiền bà H còn nợ là 574.000.000 đồng. Ngày 22/01/2022, bà Đ đã trả thêm cho bà H số tiền là 350.000.000 đồng.

Nay bà Trần Yến H cầu bà Trương Thị Đ phải trả lại khoản tiền còn lại là 224.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Xét thấy, việc vay tài sản giữa các bên được thỏa thuận bằng văn bản. Các đương sự đều có đủ năng lực pháp luật dân sự, hình thức và nội dung các thỏa thuận liên quan đến giao dịch là phù hợp với quy định của pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên.

Việc vay mượn tiền giữa bà H và bà Đặng 1 có thực, đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi. Tuy nhiên, bà H tự nguyện không yêu cầu tính lãi là có lợi cho bà Đặng n1 chấp nhận.

Tuy, bà Đ trình bày hai bên đã thỏa thuận nếu trả 350.000.000 đồng thì coi như hết nợ do đó bà không đồng ý trả nợ tiếp, nhưng bà H không thừa nhận vấn đề này và ngoài lời trình bày thì bà Đ không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để xem xét.

Nay bà H yêu cầu bà Đ có trách nhiệm trả số tiền còn lại là 224.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 463; Điều 466; Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn bà Trần Yến H không phải chịu án phí. Bị đơn bà Trương Thị Đ đã trên 60 tuổi và đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 463; Điều 466; Điều 469 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2022.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Buộc bà Trương Thị Đ có trách nhiệm trả cho bà Trần Yến H số tiền 224.000.000 đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ khi bà Trần Yến H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trương Thị Đặng c thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bà Trương Thị Đ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Trương Thị Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 7c và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 12
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Minh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 427/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 427/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VAY TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger