Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 427/2024/HS-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng
Ông Trần Công Danh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 428/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 430/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Nguyễn H (tên gọi khác: Ba L), sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi đăng ký thường trú: Số B, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: Số B, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ H1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được hủy bỏ tạm giữ theo Quyết định số 873/QĐ-VKSBH ngày 29/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Đến ngày 04/01/2024, bị cáo bị bắt tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 152/LB-BCĐTG ngày 04/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Vũ Huỳnh Nhật H3, sinh năm 1995 (có mặt)

Địa chỉ: Số C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 13/12/2023 đến ngày 04/01/2024, Vũ Nguyễn H đã 02 lần có hành vi gây thương tích cho chị Vũ Huỳnh Nhật H3, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 13/12/2023, chị H3 đến nhà H tại số B, tổ G, khu phố A, phường B, thành phố B để lấy điện thoại (do H nói cho Hạ chiếc điện thoại mới). Khi tới nhà H, chị H3 tự lấy chìa khóa H để ở góc phải cổng ra vào và mở cửa đi vào nhà H. H đi ra định trả tiền taxi cho chị H3 nhưng chị H3 nói đã trả rồi nên H khóa công đi vào. Sau đó, H kêu chị H3 đi lên gác nói chuyện. Trong lúc nói chuyện, H ghen tuông nghi ngờ chị H3 có bạn trai mới nên yêu cầu chị H3 đưa điện thoại cho H kiểm tra tin nhắn nhưng chị H3 không đưa nên hai bên xảy ra cãi vã. Lúc này, H dùng tay đánh nhiều cái vào đầu, mặt và bóp cổ chị H3, dùng chân đạp vào bụng chị H3 và bắt chị H3 nói rõ về bạn trai mới, chị H3 không thừa nhận có bạn trai mới nhưng H không tin. Tiếp đó, H xuống dưới nhà lấy 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm, cán nhựa màu vàng và đi lên gác tiếp tục đe dọa tra hỏi chị H3 nhiều lần về người đàn ông nhắn tin với chị H3. Thấy chị H3 không thừa nhận quen bạn trai mới nên H dùng dao rạch 01 nhát vào gót chân phải, rạch 02 nhát vào đùi phải chị H3, nắm tóc kéo chị H3 xuống phòng khách bắt chị H3 quỳ dưới nền nhà. Cùng lúc này, bà Nguyễn Thị Thu H2 (sinh năm 1970, là mẹ của H) ở gần đó nghe ồn ào nên đi qua thấy sự việc, bà H2 nói H mở cửa nhưng H không mở. H tiếp tục tra hỏi và yêu cầu chị H3 cho coi tin nhắn nhưng chị H3 không đồng ý nên H tiếp tục dùng dao Thái Lan rạch 01 nhát vào đùi trái (vùng gối) của chị H3 và dùng 01 đao bằng kim loại dài 60cm, bản rộng 10cm dùng sống đao đánh chị H3. Bà H2 thấy vậy can ngăn yêu cầu H dừng lại nhưng H vẫn không đồng ý nên bà H2 đến Công an phường B, thành phố B trình báo sự việc. Sau đó, Công an phường B xuống vận động thì H mở cửa, H3 được mọi người đưa đi cấp tại Bệnh viện Đ.

Hậu quả, chị Vũ Huỳnh Nhật H3 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%. Ngày 20/12/2023, chị Vũ Huỳnh Nhật H3 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Vũ Nguyễn H về tội “Cố ý gây thương tích" quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

- Lần thứ hai: Quá trình tại ngoại điều tra, Vũ Nguyễn H tiếp tục liên lạc với chị H3 để yêu cầu chị H3 viết đơn rút yêu cầu khởi tố cho H. Khoảng 12 giờ ngày 04/01/2024, H mang theo 01 (một) dao bầu cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 6,5 cm, mũi dao nhọn đến cửa hàng T tại số B đường H, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, H thấy chị H3 đang ăn trưa cùng bạn trên tầng 1 nên H đi lên và yêu cầu chị H3 viết đơn rút yêu cầu khởi tố cho H thì giữa H và chị H3 lời qua tiếng lại. Lúc này, H nhìn thấy chị H3 sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng đang nhắn tin nên H tiếp tục nghi ngờ ghen tuông, tra hỏi và yêu cầu chị H3 cho xem tin nhắn nhưng chị H3 không đồng ý. H dùng tay kẹp cổ kéo chị H3 từ trên tầng 1 xuống tầng trệt của quán và dùng tay tát vào mặt trúng khóe mắt phải chị H3. Lúc này, chiếc điện thoại của chị H3 rơi xuống nền nhà nên H nhặt điện thoại bỏ vào túi đi ra ngoài, mục đích để mở xem tin nhắn trong điện thoại. Lúc này, chị H3 cũng đi ra ngoài yêu cầu Hoàn trả và không cho H xem điện thoại thì H dùng tay đánh nhiều cái vào đầu và mặt chị H3. Sau đó, H đi ra xe lấy con dao bầu mục đích hù dọa chị H3 để yêu cầu chị H3 lên xe đi với H nhưng chị H3 không đi. Chị H3 bỏ chạy vào bên trong hầm gửi xe của ngân hàng A gần đó (nơi H3 làm việc), còn H vứt con dao trước cửa hàng T và lên xe về nhà. Khi về tới nhà, H lấy chiếc điện thoại của chị H3 ra để xem tin nhắn nhưng điện thoại cài mật khẩu nên H không mở được, bực tức H đã đập vỡ chiếc điện thoại của chị H3 trị giá 1.047.000₫ (Một triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Vào lúc 12 giờ 35 phút cùng ngày, chị H3 đã đến Công an phường Q, thành phố B trình báo sự việc, sau đó đến Bệnh viện I điều trị thương tích. Công an phường Q tiếp nhận tin báo lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền. Hậu quả, chị Vũ Huỳnh Nhật H3 bị thương tích mới với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Nguyễn H khai nhận hành vi phạm tội như trên.

- Vật chứng:

  • 01 (một) đao bằng kim loại dài 60cm (cán nhựa màu vàng đen dài 20cm, lưỡi dài 40cm mũi nhọn) bản rộng 10cm; 01 (một) con dao tự chế (dao bầu) cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 6,5 cm; 01 ổ khóa hiệu YETI-ITALY màu đồng; 01 hộp quẹt (bật lửa) kim loại màu đồng là hung khí Vũ Nguyễn H sử dụng gây án.
  • 01 con dao Thái Lan dài khoảng 20cm cán nhựa màu vàng là hung khí Vũ Nguyễn H sử dụng gây án. Sau khi xảy ra vụ việc, H đã dọn dẹp nhà và vứt bỏ không nhớ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu trắng dung lượng 32Gb (bị hư hỏng) là tài sản của chị Vũ Huỳnh Nhật H3 không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H3.
  • 01 USB màu trắng hiệu Kingston, dung lượng 16GB (Lưu tại hồ sơ). (Bút lục số: 127-128, 131-134, 139).

- Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 1202/KLTTCT-TTPYĐN ngày 26/12/2023 của Trung tâm P, kết luận thương tích của chị Vũ Huỳnh Nhật H3 như sau:

1. Các kết quả chính:

  • Vết thương ô mô út bàn tay phải kích thước 02x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
  • Vết thương đùi phải kích thước 03x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
  • Vết thương đùi trái (vùng gối) kích thước 04x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
  • Vết thương lòng bàn chân phải (gót chân phải) kích thước 03x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
  • Không định tỷ lệ cho chấn thương mắt trái đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Huỳnh Nhật H3 - sinh năm 1995 tại thời điểm giám định là: 07% (Bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • Vật gây thương tích:
    • Chấn thương mắt trái: Vật tày
    • Thương tích bàn tay phải và chân hai bên: Vật sắc.

- Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 0226/KLTTCT-TTPYĐN ngày 13/3/2024 của Trung tâm P, kết luận thương tích của chị Vũ Huỳnh Nhật H3 như sau:

1. Các kết quả chính:

  • Sẹo khóe ngoài mắt phải kích thước 0,8x0,2 cm. Tỷ lệ: 03%
  • Không định tỷ lệ cho chấn thương đầu mặt đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Huỳnh Nhật H3 - 1995 tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm).

3. Kết luận khác:

  • Vật gây thương tích: Vật tày (Bút lục số: 187-189).
  • Tại kết luận định giá tài sản số 68/KL ngày 06/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 điện thoại Iphone 7 Plus loại 32Gb trị giá 1.047.000đ (Một triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) (Bút lục số: 193).

* Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, chị Vũ Huỳnh Nhật H3 yêu cầu bị can Vũ Nguyễn H bồi thường tiền điều trị thương tích và các thiệt hại khác với tổng số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), H đã bồi thường cho chị H3 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng) (Bút lục số: 79).

Quá trình điều tra, Vũ Nguyễn H và chị Vũ Huỳnh Nhật H3 khai:

Trước đây, H và chị H3 sống chung với nhau như vợ chồng, sau đó chị H3 ra ngoài ở riêng. Ngày 13/12/2023, H gọi chị H3 đến nhà H để H cho chị H3 chiếc điện thoại mới. Chị H3 đến nhà H và lấy chìa khóa (để ở cổng) tự mở cửa đi vào nhà. Tại nhà H, H và chị H3 xảy ra mâu thuẫn do H ghen tuông, chị H3 bị H dùng dao đe dọa giết nhưng H chỉ muốn hù dọa, chị H3 cũng biết rõ H hù dọa nên không sợ hãi, không kêu cứu, bỏ chạy.

Ngày 04/01/2024, H đánh chị H3 làm chị H3 rơi 01 điện thoại Iphone 7 Plus, do ghen tuông nên H lấy chiếc điện thoại trên mang về nhà mục đích để xem tin nhắn của chị H3 trong điện thoại xong sẽ trả lại chị H3 nhưng điện thoại cài mật khẩu, H không mở được nên H đã bực tức đập vỡ chiếc điện thoại trên. Trước đây, H đã nhiều lần cho chị H3 điện thoại mới, H không có mục đích chiếm đoạt tài sản của chị H3. (Bút lục số: 214-215)

Tại bản Cáo trạng số: 416/CT-VKSBH ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Vũ Nguyễn H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Nguyễn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Nguyễn H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đao bằng kim loại dài 60cm (cán nhựa màu vàng đen dài 20cm, lưỡi dài 40cm mũi nhọn) bản rộng 10cm; 01 (một) con dao tự chế (dao bầu) cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 6,5 cm; 01 ổ khóa hiệu YETI-ITALY màu đồng; 01 hộp quẹt (bật lửa) kim loại màu đồng là hung khí gây án của Vũ Nguyễn H dùng vào việc phạm tội. Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên ghi nhận sự tự nguyện của bị hại. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình tranh tụng, bị cáo Vũ Nguyễn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vũ Nguyễn H đã cố ý gây thương tích cho sức khỏe của chị Vũ Huỳnh Nhật H3 02 lần: Lần thứ nhất vào khoảng 07 giờ ngày 13/12/2023, tại số nhà B, tổ G, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vũ Nguyễn H đã có hành vi dùng tay đánh nhiều cái vào đầu, mặt và bóp cổ chị H3, dùng chân đạp vào bụng chị H3. Tiếp đó, H dùng dao rạch 01 nhát vào gót chân phải, rạch 02 nhát vào đùi phải chị H3, nắm tóc kéo chị H3 xuống phòng khách bắt chị H3 quỳ dưới nền nhà. Sau đó, H lại tiếp tục rạch 01 nhát vào đùi trái (vùng gối) của chị H3 và dùng 01 đao bằng kim loại dài 60cm, bản rộng 10cm dùng sống đao đánh chị H3 gây thương tích. Hậu quả, chị Vũ Huỳnh Nhật H3 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 07%; Lần thứ hai vào khoảng 12 giờ ngày 04/01/2024, tại cửa hàng T địa chỉ số B đường H, khu phố A, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. H có hành vi dùng tay kẹp cổ kéo chị H3 từ trên tầng 1 xuống tầng trệt của quán và dùng tay tát vào mặt trúng khóe mắt phải chị H3. Hậu quả, chị Vũ Huỳnh Nhật H3 bị thương tích mới với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Vũ Nguyễn H đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo đã trưởng thành nên có đủ nhận biết hành vi vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì không kiềm chế được hành vi mà dùng tay, chân và dao có sẵn trong nhà gây thương tích cho bị hại như trên. Sau khi phạm tội và đang trong quá trình tại ngoại để điều tra, bị cáo vẫn tiếp tục có hành vi dùng vũ lực và dao mang theo để đe dọa và gây thương tích cho bị hại, chứng tỏ bị cáo là người coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác và coi thường pháp luật nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại cho rằng chi phí điều trị ít và không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) đao bằng kim loại dài 60cm (cán nhựa màu vàng, đen dài 20cm, lưỡi dao dài 40cm, bản đao rộng 10cm); 01 (một) con dao tự chế (dao bầu) cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 6,5 cm; 01 ổ khóa hiệu YETI-ITALY màu đồng; 01 hộp quẹt (bật lửa) kim loại màu đồng là hung khí gây án của Vũ Nguyễn H dùng vào việc phạm tội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền tổn thất về mặt tinh thần, tiền viện phí, tiền chiếc điện thoại bị đập vỡ tổng là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường cho bị hại là 6.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại cho rằng chi phí điều trị ít và không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nên không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền nào khác và việc không yêu cầu bị cáo bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Xét đây là sự tự nguyện của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Nguyễn H phạm tội “Cố ý gây thương tích".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Vũ Nguyễn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024 nhưng được trừ thời hạn tạm giữ trước đó từ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đao bằng kim loại dài 60cm (cán nhựa màu vàng, đen dài 20cm, lưỡi dao dài 40cm, bản đao rộng 10cm); 01 (một) con dao tự chế (dao bầu) cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 32cm, bản rộng 6,5 cm; 01 ổ khóa hiệu YETI-ITALY màu đồng; 01 hộp quẹt (bật lửa) kim loại màu đồng.

(Các vật chứng trên đã được giao nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Công an thành phố B).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Vũ Nguyễn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 427/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (criminal case)

  • Số bản án: 427/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ H phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger