|
TÒA PHÚC THẨM TANDTC TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 427/2025/HS-PT Ngày: 16/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Mai; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Tiến Dũng; |
| Bà Nguyễn Ngọc Hoa. |
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy Trang, Thư ký viên.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Giang - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 312/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Hải Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm 545/2025/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hải Y, sinh năm 1986; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Số B đường T, phường F, quận G (nay là phường A), thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Số B đường số 1, phường A, quận G (nay là phường A), thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Bảo U (đã chết) và con bà: Ngô Thị G; Có chồng: Nguyễn Anh T; Có 02 con: Con lớn sinh năm: 2015, con nhỏ sinh năm: 2020. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị bắt tạm giam từ ngày 17/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đinh Thị Kim T1 - Công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số A T, phường H, thành phố Hà Nội; có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Thanh T2, sinh năm: 1983, HKTT: Chung cư H, phường T, thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là chung cư H, phường C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị hại anh Vũ Trung H và anh Vũ Đình H1 không có kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2023, Nguyễn Hải Y qua tìm hiểu trên mạng xã hội và biết anh Vũ Trung H (sinh năm: 1980, HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội) có cửa hàng kinh doanh sâm nấm Hàn Quốc tại địa chỉ: Số E, khu T, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội và đã từng mua sâm, nấm của anh H. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Y nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H. Y đưa ra thông tin gian dối về việc mình làm quản lý Cảng vụ hàng không miền N và có quan hệ với các hãng hàng không lớn như V, Vietjet A, B, có Công ty D tổ chức các tour du lịch trong và ngoài nước có thể tham gia đầu tư hưởng lợi nhuận từ việc chuyển tiền cho Y để thanh toán trước tiền vé máy bay cho các tour du lịch, sau 01 tháng khi đoàn đi du lịch về thanh toán tiền thì Y sẽ thanh toán cả phần tiền gốc và tiền lợi nhuận là 10%. Để thực hiện thủ đoạn trên, Y đã tự tạo ra danh sách các đoàn du lịch và báo số tiền cần thanh toán trước của mỗi đoàn để yêu cầu chuyển tiền cho Y. Ngoài ra, thông qua anh H, Y quen biết và đưa ra thông tin gian dối như trên để lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Vũ Đình H1 (sinh năm: 1978, HKTT: SỐ A T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội), là anh trai anh H. Bằng thủ đoạn trên, từ ngày 07/7/2023 đến ngày 24/01/2024, Y đã chiếm đoạt được của anh H và anh H1 tổng số tiền 1.876.600.000 đồng rồi sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên, cụ thể:
1. Hành vi chiếm đoạt số tiền 1.271.800.000 đồng của anh Vũ Trung H:
Từ khoảng đầu tháng 02/2023, Y dùng số điện thoại 097555801, sử dụng tài khoản zalo tên “Canary”, tài khoản Facebook tên “Nguyễn C” rồi chủ động kết bạn zalo với anh H để mua sâm, nấm của anh H. Y đến cửa hàng kinh doanh sâm nấm của anh H mua hàng, tạo dựng mối quan hệ để gây dựng lòng tin với anh H. Y giới thiệu với anh H mình làm quản lý Cảng vụ hàng không miền N và có quan hệ với các hãng hàng không lớn như V, Vietjet A, Bamboo Al nên việc xuất vé máy bay đối với Y rất thuận lợi. Y đưa ra thông tin gian dối với anh H về việc có công ty du lịch riêng, chuyên tổ chức các tour du lịch cho các đoàn khách đi du lịch trong nước và ngoài nước, nếu muốn làm vé du lịch đoàn thì phải được sự đồng ý của Y. Sau đó anh H nói với Y mong muốn được bán vé du lịch. Y đề nghị anh H chuyển tiền cho Y để thanh toán trước tiền vé máy bay cho các tour du lịch, sau khi đoàn về Y sẽ thanh toán cho anh H tiền gốc và 10% tiền lãi. Y bảo anh H liên hệ với nhân viên của Y tên là Trương Thị Thanh T2 (sinh năm: 1983, HKTT: Chung cư H, phường C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh) để Tuyền gửi các danh sách đoàn, báo phí từng đoàn rồi chuyển tiền cho Y để thanh toán trước tiền vé máy bay cho các tour du lịch. Danh sách đoàn và số tiền cần thanh toán trước của mỗi đoàn do Y tự tạo ra rồi chuyển cho T2 để T2 chuyển lại cho anh H. Anh H đã liên lạc với T2 sử dụng số điện thoại 0942.454.xxx, sử dụng tài khoản Zalo lấy tên “Lucky”, tài khoản Facebook lấy tên “Trương Tuyền” để trao đổi.
Khoảng cuối tháng 3/2023, khi T2 gửi danh sách của 12 đoàn khách du lịch qua tin nhắn zalo cho anh H và yêu cầu chuyển số tiền 392.000.000 đồng cho Y thì anh H đã chuyển khoản số tiền này từ tài khoản Ngân hàng M số: 0000951405224 mang tên Vũ Trung H vào tài khoản Ngân hàng M số: 1090107074786 mang tên Nguyễn Hải Y. Để tạo niềm tin cho anh H tiếp tục chuyển tiền, khoảng giữa tháng 5/2023, Y đã chuyển khoản lại cho anh H số tiền 428.000.000đồng (gồm 392.000.000 đồng tiền gốc và 10% gọi là lợi nhuận như đã hứa hẹn) từ tài khoản Ngân hàng T3 số 19024489731018 của Y.
Từ ngày 0707/2023 đến ngày 24/01/2024, T2 tiếp tục gửi cho anh H các danh sách của các đoàn du lịch và yêu cầu chuyển số tiền cần thanh toán trước của mỗi đoàn, nên anh H đã chuyển khoản nhiều lần tổng số tiền 1.271.800.000 đồng cho Y vào tài khoản Ngân hàng M. Tổng số tiền 1.271.800.000 đồng Y chiếm đoạt của anh H, Y đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Quá hẹn không thấy Y chuyển lại tiền như hứa hẹn ở trên nên anh H gọi điện cho T2 nhưng không liên lạc được, liên hệ với Y thì Y đưa ra nhiều lý do để không trả tiền. Do đó, anh H đã gửi đơn đến Cơ quan công an tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Hải Y.
Trách nhiệm dân sự: Anh H yêu cầu bị cáo Nguyễn Hải Y bồi thường số tiền 1.271.800.000 đồng đã chiếm đoạt.
2. Hành vi chiếm đoạt số tiền 604.800.000 đồng của anh Vũ Đình H1:
Khoảng tháng 8/2023, anh Vũ Trung H giới thiệu anh Vũ Đình H1 (là anh trai anh H) tham gia làm đoàn du lịch với bị cáo Nguyễn Hải Y như trên. Bị cáo Nguyễn Hải Y yêu cầu anh H1 liên hệ với T2 để T2 chuyển danh sách đoàn du lịch cho anh H1. Khi T2 gửi danh sách 07 đoàn du lịch cho anh H1 và yêu cầu chuyển số tiền 235.200.000 đồng cho Y thì ngày 26/8/2023, anh H1 đã chuyển khoản số tiền này từ tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên Vũ Đình H1 đến tài khoản Ngân hàng M của Y. Tuyền hẹn sau 01 tháng đoàn du lịch về thì Y sẽ trả anh H1 tiền gốc và 10% lợi nhuận. Ngày 27/8/2023, theo danh sách của 11 đoàn du lịch T2 gửi cho anh H1, anh H1 tiếp tục chuyển khoản số tiền 369.600.000 đồng cho Y. Tổng số tiền 604.800.000 đồng Y chiếm đoạt của anh H1, Y đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Quá hẹn không thấy Y thanh toán nên anh H1 đã nhiều lần liên hệ với Y nhưng Y đưa ra nhiều lý do để không trả tiền. Sau đó anh H1 đã gửi đơn đến Cơ quan Công an tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hải Y.
Trách nhiệm dân sự: Anh H1 yêu cầu bị cáo Y bồi thường số tiền 604.800.000 đồng đã chiếm đoạt.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 545/2025/HS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Y 13 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/5/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, về vật chứng vụ án, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/8/2025, bị cáo Nguyễn Hải Y có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hải Y giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ thấy có đủ cơ sở khẳng định: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Y 13 năm 06 tháng tù là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nào đáng kể có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Luật sư, quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải Y trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Trên cơ sở nội dung khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Nguyễn Hải Y đưa ra thông tin gian dối mình làm quản lý Cảng vụ hàng không miền N và có quan hệ với các hãng hàng không lớn như V, Vietjet A, Bamboo A1, có Công ty D1 chuyên tổ chức các tour du lịch trong và ngoài nước để rủ anh Vũ Trung H và anh Vũ Đình H1 tham gia đầu tư hưởng lợi nhuận từ việc chuyển tiền cho bị cáo Y để thanh toán trước tiền vé máy bay cho các tour du lịch, sau 01 tháng khi đoàn đi du lịch về trả tiền thì bị cáo Y sẽ thanh toán cả phần tiền gốc và tiền lợi nhuận cho các anh. Bằng thủ đoạn này, từ ngày ngày 07/7/2023 đến ngày 24/01/2024, bị cáo Nguyễn Hải Y đã chiếm đoạt của anh H và anh H1 tổng số tiền 1.876.600.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt, bị cáo Y sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân hết. Hiện hậu quả chưa khắc phục.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hải Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Bộ luật Hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt là trên 500.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Bị cáo nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 người nên thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Bị cáo Nguyễn Hải Y bị truy tố, xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa bị tiền, án tiền sự, đang bị bệnh tật, các con còn nhỏ, bố chồng bị cáo có công với cách mạng để vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Y 13 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
[5] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết mới nào đáng kể có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên không có cơ sở giảm hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo yến, giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Hải Y phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Kiến nghị:
Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật đối với đối tượng Trương Thị Thanh T2 (sinh năm: 1983, HKTT: Chung cư H, phường C, quận T, thành phố Hồ Chí Minh) về hành vi sử dụng số điện thoại 0942.454.xxx và sử dụng các tài khoản Zalo lấy tên “Lucky”, tài khoản Facebook lấy tên “Trương Tuyền” để trao đổi với các bị hại; Tuyền gửi các danh sách đoàn, báo phí từng đoàn và số tiền cần thanh toán trước của mỗi đoàn do Y tự tạo ra cho anh Vũ Trung H và anh Vũ Đình H1 để các anh chuyển tiền cho Y thanh toán trước tiền vé máy bay cho các tour du lịch nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hải Y. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 545/2025/HS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Y 13 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/5/2024.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hải Y phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mai |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Lê Thị Mai |
7
Bản án số 427/2025/HS-PT ngày 16/10/2025 của TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 427/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hải Y phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
