|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 427/2024/HS-ST Ngày: 29/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Duy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh;
Ông Nguyễn Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 503/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4246/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 12333/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Hồ Tấn L, sinh ngày: 01/10/1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I đường V, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Căn hộ HR1A 14.01, Chung cư E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Hồ Văn M, sinh năm 1961; Mẹ: Kho Ti G, sinh năm 1961; Vợ, con; Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/4/2023 (có mặt).
-
Hồ Viễn T, sinh ngày: 30/12/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G đường X, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Số A đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Cha: Huỳnh Lý Đ (đã chết); Mẹ: Hồ Lệ M, sinh năm 1972; Bị cáo là con duy nhất; Vợ: Huỳnh Thị T, sinh năm 1996; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/4/2023 (có mặt).
-
- Tiền án: Ngày 23/7/2019, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 10/7/2022, chấp hành xong án phạt tù (Bản án số 39/2019/HS-ST).
-
- Tiền sự: Không.
-
- Nhân thân: Ngày 27/9/2017, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 17/11/2018, chấp hành xong án phạt tù (Bản án số 540/2017/HS-PT).
-
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Viễn T: Luật sư Nguyễn Ngọc T2 – Văn phòng Luật sư Hồ Trung H – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Tấn L: Luật sư Nguyễn Thị Kim A – Công ty L2 - Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Bà Hồ Lệ M, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số G đường X, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
-
- Bà Nguyễn Ngân H1, sinh năm 2002. Địa chỉ thường trú: 7 H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 210 H, H H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
-
- Ông Quách Nguyễn N, sinh năm 2002. Địa chỉ: B H, H H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 6 L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 14 giờ 45 ngày 22/4/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phối hợp Công an phường T, Quận G kiểm tra hành chính Căn hộ HR1.A14.01, Chung cư E, địa chỉ số A đường N, phường T, Quận G, phát hiện Hồ Tấn L có biểu hiện nghi vấn, kiểm tra thu giữ 05 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, khối lượng 84,0368 gam, loại Ketamine và 01 gói nylon chứa 11 viên nén là ma túy, khối lượng 5,1308 gam, loại MDMA. L khai ma túy L mua của người tên H (không rõ lai lịch) và mua của Hồ Viễn T để bán lại cho người khác thu lợi, nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, cùng vật chứng.
Sau khi xác minh làm rõ, ngày 25/4/2023 khám xét khẩn cấp nơi ở của Hồ Viễn T (địa chỉ số A đường L, phường B, quận B), nhưng không có tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 27/4/2023, Hồ Viễn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, để điều tra.
Vật chứng là ma túy thu giữ của Hồ Tấn L đã được giám định tại Kết luận giám định số 4143/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả điều tra xác định ngày 26/12/2022 và ngày 29/3/2023, Hồ Tấn L đặt mua của người tên H (không rõ lai lịch) 100 gam ma túy, loại Ketamine và 100 viên ma túy, loại MDMA, giá 57.000.000 đồng, giao ma túy trước Chung cư E, số A đường N, phường T, Quận G. Sau đó, L đã 02 lần bán ma túy cho người tên Thùy P và nhiều người khác (không rõ lai lịch); 03 lần bán ma túy cho Quách Nguyễn N và Nguyễn Ngân H1, còn lại 11 viên ma túy, loại MDMA, khối lượng 5,1308 gam, chưa bán được. Ngày 20/04/2023, Hồ Tấn L đặt mua Hồ Viễn Thuận của 100 gam ma túy, loại Ketamine, giá 52.000.000 đồng, giao ma túy tại khu vực Chung cư E, số A đường N, phường T, Quận G. T mua của người cùng tên H (không rõ lai lịch) 100 gam ma túy, loại Ketamine, giá 48.000.000 đồng, nhưng giao ma túy cho L, còn T chuyển tiền vào tài khoản số 160485 tên Bui N tại Ngân hàng S để trả tiền mua ma túy cho H. Sau đó, L bán cho người tên Thùy P (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy, loại Ketamine, giá 2.500.000 đồng, các chất ma túy còn lại là 5,1308 gam MDMA và 84,0368 gam Ketamine, L cất giấu tại chỗ ở để bán thì bị phát hiện, bắt quả tang như trên. L đã thu lợi 20.000.000 đồng; T đã thu lợi 4.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Hồ Tấn L và Hồ Viễn T khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 363/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Hồ Tấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Hồ Viễn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Tấn L từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền 10.000.000 đồng.
Áp dụng điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luạt Hình sự nam 2015 sửa đổi, bổ sung nam 2017 xử phạt bị cáo Hồ Viễn T từ 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Hồ Viễn T và bị cáo Hồ Tấn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Viễn T – Luật sư Nguyễn Ngọc T2:
Luật sư đồng ý với Cáo trạng do Viện kiểm sát truy tố về tội danh, khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo có gia cảnh đặc biệt, 12 tuổi thì ba mất sớm, chỉ còn mẹ lớn tuổi, là người dân tộc Hoa nên thiếu sự giáo dục của gia đình, dang dở việc học. Lượng ma túy đã bị thu giữ ¼ nên tác hại cho xã hội có phần hạn chế. Bị cáo chỉ tham gia mua bán ma túy nhỏ lẻ, thu lợi không nhiều nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và giảm hoặc miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Tấn L – Luật sư Nguyễn Thị Kim A:
Luật sư đồng ý với Cáo trạng do Viện kiểm sát truy tố về tội danh, khung hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và giảm hoặc miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Các bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy đã xâm phạm đến khách thể được Nhà nước quản lý, bảo vệ. Về tội danh và hình phạt thì các luật sư đã thống nhất với Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, không thể so sánh quy mô và mức độ phạm tội của vụ án ma túy này với các vụ án ma túy khác. Đại diện Viện kiểm sát chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật, của Bộ luật Hình sự để đưa ra mức án phù hợp cho các bị cáo. Hơn nữa, bị cáo L còn có thân nhân xấu. Đại diện Viện kiểm sát đã xem xét toàn bộ gia cảnh và hành vi phạm tội để đề nghị mức án và hình phạt tiền bổ sung sao cho xứng đáng đối với từng bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai của các bị cáo và tài liệu chứng cứ khác có trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa đủ cơ sở để kết luận:
Hồ Tấn L đặt mua của người tên H (không rõ lai lịch) 100 gam ma túy, loại Ketamine và 100 viên ma túy, loại MDMA, giá 57.000.000 đồng, giao ma túy trước Chung cư E, số A đường N, phường T, Quận G. Sau đó, L đã 02 lần bán ma túy cho người tên Thùy P và nhiều người khác (không rõ lai lịch); 03 lần bán ma túy cho Quách Nguyễn N và Nguyễn Ngân H1, còn lại 11 viên ma túy, loại MDMA, khối lượng 5,1308 gam, chưa bán được.
Ngày 20/04/2023, Hồ Tấn L đặt mua của Hồ Viễn T 100 gam ma túy, loại Ketamine, giá 52.000.000 đồng, giao ma túy tại khu vực Chung cư E, số A đường N, phường T, Quận G. T mua của người cùng tên H (không rõ lai lịch) 100 gam ma túy, loại Ketamine, giá 48.000.000 đồng, nhưng giao ma túy cho L, còn T chuyển tiền vào tài khoản số 160485 tên Bui N tại Ngân hàng S để trả tiền mua ma túy cho H. Sau đó, L bán cho người tên Thùy P (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy, loại Ketamine, giá 2.500.000 đồng, các chất ma túy còn lại là 5,1308 gam MDMA và 84,0368 gam Ketamine, L cất giấu tại chỗ ở để bán thì bị phát hiện, bắt quả tang như trên. L đã thu lợi 20.000.000 đồng; T đã thu lợi 4.000.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã đủ cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hồ Viễn T và Hồ Tấn L phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với 100 gam ma túy, loại Ketamine mà T đã bán cho L vào ngày 20/4/2023 để L bán lại cho người khác (số còn lại, chưa bán được bị thu giữ vào ngày 22/4/2023 là 84,0368 gam Ketamine). Ngoài ra, Hồ Tấn L còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy đã mua của H để bán, còn lại là 5,1308 gam MDMA, bị thu giữ cùng ngày 22/4/2023. Vì vậy, L phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 02 lần mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 100 gam Ketamine và 5,1308 gam MDMA.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Hồ Tấn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Hồ Viễn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự xã hội, làm nguy cơ gia tăng các tệ nạn xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đủ nhận thức hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi cá nhân vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán ma túy, là hành vi bị pháp luật cấm. Bị cáo Hồ Tấn L thực hiện hành vi 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Hồ Viễn T có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo Hồ Viễn T chưa được xóa án tích đối với tội “Cướp giật tài sản” đã bị Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử vào ngày 23/7/2019 nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên bị cáo Hồ Viễn T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với đề nghị của luật sư: Hội đồng xét xử đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ để chấp nhận đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo của các luật sư. Riêng đối với hình phạt bổ sung thì có căn cứ để giảm mức hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt cũng cần xem xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người bào chữa của các bị cáo: Tại phiên tòa và cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Đối với những lần mua bán trái phép chất ma túy trước ngày 20/4/2023 do chỉ có lời khai của Hồ Tấn L nên không đủ căn cứ để xử lý xem xét.
Đối với Quách Nguyễn N và Nguyễn Ngân H1 có hành vi mua ma túy của L để sử dụng, nhưng chỉ có lời khai và không thu giữ được ma túy nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với người tên H bán ma túy cho T, người tên H bán ma túy cho L, người tên Thùy P và những người mua ma túy của L, không xác định được lai lịch nên không có cơ sở xem xét xử lý.
Đối với Bui N đứng tên đăng ký tài khoản tại ngân hàng S do không xác định được N đang ở đâu nên chưa ghi được lời khai làm rõ đề nghị Cơ quan Điều tra xem xét xử lý khi có đủ căn cứ.
[3] Xét cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với các bị cáo về khung, điều luật và tội danh như đã viện dẫn trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét phần luận tội của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
-
- 01 (một) gói ma túy được niêm phong còn lại sau giám định: Toàn bộ số ma tuý của các bị cáo bị thu giữ và là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
-
- 01 cân điện tử; 02 đĩa; 01 thẻ nhựa; 01 ống hút; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn: Đây là các dụng cụ mà các bị cáo dùng để sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
-
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone của bị cáo L và 01 điện thoại di động hiệu Iphone của bị cáo T: Bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
-
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 50N1-000.71 do bà Hồ Lệ M (mẹ ruột T) đứng tên chủ sở hữu, bà M giao xe cho T sử dụng nhưng không biết T dùng để đi bán ma túy nên trả lại cho chủ sở hữu.
-
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone của ông Quách Nguyễn N: không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho ông Quách Nguyễn N.
-
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone của bà Nguyễn Ngân H1: không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Nguyễn Ngân H1.
[5] Về hình phạt bổ sung: Cần buộc các bị cáo nộp một khoản tiền phạt bổ sung theo luật định để nộp ngân sách nhà nước, mỗi bị cáo là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
[6] Về án phí hình sự:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Hồ Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hồ Tấn L 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2023.
- Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Hồ Viễn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hồ Viễn T 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2023.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt tiền bổ sung đối với mỗi bị cáo là 5.000.000 (năm triệu) đồng.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
-
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy được niêm phong có chữ ký ghi tên của Giám định viên Bùi Công Danh (PC09) và Cán bộ Đặng Hữu Hùng (CAQ7), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 cân điện tử màu đen; 02 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 ống hút bằng giấy tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 ống hút bằng kim loại.
-
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, trên khay sim có ghi số: 35807 42998 85817, số thuê bao: 0938801314 của bị cáo L; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, trên khay sim có ghi số: 35040 04816 40804, số thuê bao: 0902216926.
-
- Trả lại cho bà Hồ Lệ M 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 50N1-000.71.
-
- Trả lại cho ông Quách Nguyễn N 01 điện thoại di động hiệu Iphone trên khay sim có ghi số 35923 76397 51564.
-
- Trả lại cho bà Nguyễn Ngân H1 01 điện thoại di động hiệu Iphone trên khay sim có ghi số 35140 66680 51547.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 12/8/2024)
-
-
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Hồ Tấn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Hồ Viễn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
-
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Duy |
Bản án số 427/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 427/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm về mua bán trái phép chất ma túy
