|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 427/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung
- Các hội thẩm nhân dân: Nguyễn Hồ Cảnh và Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 248/2024/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1999; Địa chỉ: thôn T, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lưu Đình Trí N1, sinh năm 1997; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang trú tại: Nhật Bản. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị và anh Lưu Đình T N1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 25/12/2019. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tình cảm và hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống và sinh con thì đến năm 2022 anh N1 đi xuất khẩu lai động tại Nhật Bản. Anh N1 hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, anh N1 không cung cấp địa chỉ của mình và vợ chồng cũng không liên lạc với nhau nên chị N không biết địa chỉ của anh N1 ở nước ngoài. Hiện tại chị Nguyễn Thị N nhận thấy quan điểm và tính cách của vợ chồng thay đổi, phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt và không thể hòa hợp được nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Đình Trí N1.
1
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Lưu Nguyễn Trà M, sinh ngày 24/6/2020 đang ở với chị N; nếu vợ chồng ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Lưu Đình Trí N1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía anh Lưu Đình Trí N1: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh Lưu Đình Trí N1 có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh N1 theo thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh Lưu Đình Trí N1 vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Theo trình bày của ông Lưu Đình N2 (bố đẻ của anh N1) thì anh N1 có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ hiện tại của anh N1 ở đâu và anh N1 đã biết việc chị N làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, anh N1 có thông tin cho gia đình là hiện tại anh chưa đồng ý việc ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Tuy nhiên, đến ngày xét xử vụ án anh N1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
- Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Lưu Đình Trí N1 hiện đang ở Nhật Bản nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.
- Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo ông Lưu Đình N2 (bố đẻ của anh N1) cung cấp thông tin hiện nay anh N1 đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh N1 thường xuyên gọi điện thoại về cho gia đình; anh N1 đã biết được việc chị N xin ly hôn, anh N1 không đồng ý ly hôn nhưng cho đến ngày mở phiên tòa xét xử anh N1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Việc anh N1 vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lưu Đình Trí N1.
- Về con chung: Đề nghị giao con chung Lưu Nguyễn Trà M, sinh ngày 24/6/2020 cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị N không yêu cầu anh N1 phải cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
2
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu và anh N1 chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về thẩm quyền: Chị N trình bày anh Lưu Đình Trí N1 đang ở Nhật Bản nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh Nghĩa L ông Lưu Đình N2 (bố đẻ của anh N1) cung cấp thông tin hiện nay anh N1 đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh N1 thường xuyên gọi điện cho gia đình. Ngày 15/7/2024, Cục Q Bộ C có công văn số 15192/QLXNC-P3 cung cấp thông tin anh Lưu Đình Trí N1 xuất cảnh ngày 05/4/2022 qua cửa khẩu N3, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Do anh N1 trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Lưu Đình N2 (bố đẻ của anh N1) cung cấp hiện nay anh N1 đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nhưng không biết địa chỉ cụ thể; anh N1 vẫn gọi điện thoại về cho gia đình và đã biết được chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án, anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng cho đến ngày mở phiên tòa xét xử anh N1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, anh N1 đã biết được chị N yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- [2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị N đề nghị giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Lưu Đình Trí N1. Xét thấy, chị N, anh N1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống xa nhau, chị N ở Việt Nam, anh N1 ở nước ngoài. Do vợ chồng sống xa nhau, không liên lạc với nhau nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lưu Đình T Nghĩa là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Theo chị N trình bày, chị và anh N1 có 01 con chung. Nay ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của chị N phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định của pháp luật vì hiện nay chị N là người trực tiếp nuôi con còn anh N1 đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ.
3
Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N. Giao cho chị Nguyễn Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Lưu Nguyễn Trà M, sinh ngày 24/6/2020 đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết
- [4] Tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Lưu Đình Trí N1 vắng mặt chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trọng vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị N
- 1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lưu Đình Trí N1.
-
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lưu Nguyễn Trà M, sinh ngày 24/6/2020 đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Lưu Đình Trí N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- 3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này, dành quyền khởi kiện cho các đương sự trong một vụ án khác khi có yêu cầu.
- 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012898 ngày 06 tháng 06 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4
- 5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Lưu Đình Trí N1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quang Trung |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Hồ Cảnh |
Võ Duy Bảo |
Nguyễn Quang Trung |
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quang Trung |
6
Bản án số 427/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 427/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N - Lưu Đình Trí N
