Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 426/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/04/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Tốt.
  2. Ông Nguyễn Văn Quản.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Phú Tuấn - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 961/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 375/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ánh H, sinh năm 1985 - có đơn xin vắng mặt.

Điạ chỉ: Số E, Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1979 - vắng mặt.

Điạ chỉ: Số A, Tổ G, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Bùi Thị Ánh H trình bày:

Bà Bùi Thị Ánh H và ông Nguyễn Văn G kết hôn từ năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng gần đây đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ cải vả, khiến không khí gia đình rất nặng nề căng thẳng. Dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả nên đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống và hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Thành D sinh ngày 21/12/2004; Nguyễn Ngọc Minh V sinh ngày 27/8/2008.

Từ khi ly thân đến nay các con đều ở với bà. Nguyễn Thành D đã trưởng thành. Nếu được ly hôn bà yêu cầu được nuôi cả 02 con chung, không cần cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn là ông Nguyễn Văn G nhưng ông G đều vắng mặt tại Tòa không rõ lý do và Tòa án cũng không nhận được bất kỳ văn bản trình bày ý kiến của ông G đối với các yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn đều có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:

  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Vì lợi ích mọi mặt của trẻ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung Nguyễn Ngọc Minh V cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn G do bà Bùi Thị Ánh H chưa có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Bùi Thị Ánh H xác định không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Bùi Thị Ánh H nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn G. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn đang cư trú tại Quận A nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Bà Bùi Thị Ánh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Nguyễn Văn G nhưng ông G đều vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về nội dung tranh chấp:

[3.1]. Về hôn nhân:

Bà Bùi Thị Ánh H và ông Nguyễn Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 17/02/2005 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn nên ông H1 có đơn xin ly hôn. Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bà H đều xác định không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân, chỉ có mẫu thuẫn kéo dài và đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Kết quả xác minh về quan hệ hôn nhân tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A xác định: “Không có chứng cứ gì liên quan đến bà Bùi Thị Ánh H và ông Nguyễn Văn G”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà Bùi Thị Ánh H và ông Nguyễn Văn G thực sự mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Văn G đến để giải quyết vụ kiện nhưng ông G đều không đến, thể hiện ông G không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng. Xét thấy, đời sống chung giữa vợ chồng bà Bùi Thị Ánh H và ông Nguyễn Văn G không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ các Điều 19, 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

[3.2]. Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Thành D sinh ngày 21/12/2004; Nguyễn Ngọc Minh V sinh ngày 27/8/2008.

Con chung Nguyễn Thành D đã thành niên nên không xem xét.

Bà Bùi Thị Ánh H có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Ngọc Minh V, không cần cấp dưỡng.

Ngày 28/3/2024 tại bản tự khai cháu V cho biết nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu V đang trong độ tuổi rất cần có sự quan tâm, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định nơi ăn ở, học hành, sự ổn định về tinh thần, sức khỏe cần giao cháu V cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn G do bà Bùi Thị Ánh H chưa có yêu cầu.

[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Bùi Thị Ánh H xác định không có nên Tòa án không xem xét.

[4]. Về án phí: Bà Bùi Thị Ánh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình.

[5]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Ánh H được ly hôn với ông Nguyễn Văn G. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 13 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/02/2005 không còn giá trị pháp luật.
    2. Về con chung: Bà Bùi Thị Ánh H và ông Nguyễn Văn Giàu có 02 con chung Nguyễn Thành D sinh ngày 21/12/2004; Nguyễn Ngọc Minh V sinh ngày 27/8/2008.

      Con chung Nguyễn Thành D đã thành niên nên Tòa án không xem xét.

      Giao con chung Nguyễn Ngọc Minh V cho bà Bùi Thị Ánh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

      Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn G do bà Bùi Thị Ánh H chưa có yêu cầu.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con.

    3. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Bùi Thị Ánh H xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Bùi Thị Ánh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0030706 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị Ánh H đã nộp đủ án phí.
  3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, bổ sung năm 2014.
  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -VKSND Q.12;
  • -CCTHADS Q.12;
  • -UBND nơi cấp GCN kết hôn;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Minh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 426/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 426/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger