|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 426/2024/HS-PT
Ngày: 21/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
| Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thanh Nhã |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Văn Thành |
| Ông Trần Đức Hiếu |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 334/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Minh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo bị kháng cáo: Trần Minh H, sinh năm 1995; giới tính: nam;
ĐKHKTT: số B ngách C phố T, tổ A, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phi H1 và bà Trương Minh A; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2017 bị Công an quận H, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2023 đến nay; có mặt.
Bị hại có kháng cáo: Anh Lê Ngọc Q, sinh năm 1972; nơi cư trú: số
C ngách G ngõ C đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Lê Viết P thuộc Công ty L; có mặt.
1
Ngoài ra trong vụ án còn có người có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 12/7/2023, anh Lê Ngọc Q điều khiển xe máy, chở con trai là Lê Lâm K đi qua nhà Trần Minh H ở Số nhà B, ngách C, phố T, Tổ A, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Do anh Q tăng ga xe máy gây ra tiếng động cơ nổ lớn, H đang rửa bát ở cạnh cổng ra vào liền chạy ra, trên tay vẫn cầm 01 chiếc bát ăn bằng sứ hỏi anh Q: Có vấn đề gì đấy? Anh Q nói: Thử ga có được không. H bực tức vì câu trả lời trên nên đi đến cầm bát ở tay phải đập trúng vùng mặt anh Q làm bát bị vỡ. H tiếp tục dùng tay đấm nhiều lần trúng vào vùng miệng của anh Q. Sau đó, mọi người can ngăn đẩy anh Q đi vào nhà ở của vợ chồng anh Q ở Số C, Ngách C, phố T, Tổ A, phường T, quận H, thành phố Hà Nội (cách nhà H khoảng 12m) và đóng cổng lại. H chạy về nhà cầm con dao làm bếp (Dài khoảng 30cm, lưỡi dao bằng kim loại đầu bằng, cán gỗ) đi ra trước cửa nhà anh Q tiếp tục chửi bới đe dọa, nhưng người nhà ra can ngăn kéo H về. Khoảng 05 phút sau, em vợ anh Q là Nguyễn Đức T về nhà, thấy anh Q bị đánh nên ra đứng trước cửa nhà H chửi bới, rồi xông vào đánh H bằng tay không. H bị đánh nên lấy con dao lúc trước chạy ra và thấy anh Q đang cầm gậy gỗ trên tay nên H dùng dao chém 4-5 nhát trúng vào vùng mặt, tay phải và người. Khi mọi người đến can ngăn, H cầm theo con dao bỏ trốn khỏi hiện trường.
Sau khi sự việc xảy ra, anh Q được người nhà đưa đến cấp cứu, điều trị thương tích tại bệnh viện B, trong tình trạng bị 01 vết thương má phải dài 05cm; 01 vết thương cung mày trái dài 01 cm; 01 vết thương ở bờ hàm dưới bên phải dài 04 cm; 01 vết thương ở cẳng tay bên phải dài 10cm, lộ cơ, sâu, máu chảy nhiều, đứt thần kinh trụ; 01 vết thương ở mặt trước cẳng tay phải dài 06 cm; 01 chiếc răng cửa hàm trên bị gẫy.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1314/KLTTCT-TTPY ngày 18/9/2023 của Trung tâm P1, Sở Y kết luận về các vết thương của anh Lê Ngọc Q, với tỷ lệ tổn hại sức khỏe tại thời điểm giám định là 29%. Tuy nhiên hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng
2
và biến chứng của các tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện.
Sau khi anh Q điều trị ổn định vết thương, Cơ quan điều tra tiếp tục trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe. Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 1401/KLTTCT-TTPY ngày 02/10/2023 của Trung tâm P1, Sở Y kết luận: Giữ nguyên và thay thế, điều chỉnh tỷ lệ tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1314 ngày 18/9/2023 của Trung tâm P1: Sẹo vết thương vùng trán trái trên cung mày trái 03%; Sẹo vết thương vùng má phải 06%; Sẹo vết thương vùng má phải cằm bên phải 03%; Gãy răng R2.1: 02%; 02 vết thương, vết mổ cẳng tay phải 05%; Tổn thương hoàn toàn thần kinh trụ đoạn 1/3 trên cẳng tay phải đã phẫu thuật khâu nối, teo cơ ô mô út 21%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể anh Lê Ngọc Q tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 12/7/2023 là 35%. Cơ chế hình thành các thương tích của anh Lê Ngọc Q do vật có cạnh sắc gây ra.
Đến ngày 17/7/2023, Trần Minh H đến cơ quan công an đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể ghi nhận H bị 01 vết thương diện (2x1,5)cm tại vùng đỉnh đầu bên trái, bề mặt vết thương nham nhở, đã khô không còn rỉ máu. H khai bị Nguyễn Đức T dùng gạch đập trúng vùng đầu, nhưng do vết thương nhẹ nên H từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên quá trình điều tra, Nguyễn Đức T chỉ thừa nhận có hành vi xông vào xô xát với H, không thừa nhận có dùng gạch đập vào đầu. Kết quả trích xuất hình ảnh máy thu hình ghi lại không đủ cơ sở quy kết Nguyễn Đức T có hành vi dùng gạch gây thương tích đối với H. Công an quận H đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức T về hành vi xô xát nêu trên.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: 01 gậy gỗ kích thước (3,5x88)cm, trên gậy có dính nhiều vết màu đỏ (nghi là dấu vết máu) và 01 bát sứ màu trắng, hoa văn màu xanh đã vỡ thành nhiều mảnh.
Ngoài ra, vật chứng của vụ án còn có con dao H sử dụng gây thương tích đối với anh Lê Ngọc Q nhưng đã vứt bỏ trên đường rời khỏi hiện trường. Cơ quan điều tra đã dẫn giải, truy tìm nhưng không thu giữ được.
3
Cơ quan điều tra cũng đã thu giữ đoạn hình ảnh do máy ghi hình an ninh ghi lại sự việc xô xát giữa H, T và anh Q. Kiểm tra đoạn hình ảnh trên phù hợp với nội dung theo các lời khai của những người có mặt tại hiện trường. Đoạn hình ảnh trên được lưu giữ trong thẻ nhớ chuyển theo làm tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Anh Lê Ngọc Q có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 170.405.510 đồng, gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; chi phí và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc, thiệt hại do tổn thất về tinh thần. Đến nay Trần Minh H chưa bồi thường trách nhiệm dân sự cho anh Lê Ngọc Q.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 29/02/2024, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Minh H 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2023.
Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự. Buộc Trần Minh H bồi thường anh Lê Ngọc Q tổng số tiền 101.381.897 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 13/3/2024, anh Lê Ngọc Q kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, tăng bồi thường.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Trần Minh H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết.
- - Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xác nhận không có hóa đơn, chứng từ mới để cung cấp. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng “Có tính chất côn đồ” và tăng mức hình phạt, tăng mức bồi thường.
- - Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.
4
Đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Chỉ từ mâu thuẫn nhỏ, bị cáo sẵn sàng sử dụng hung khí tấn công bị hại. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất côn đồ” đồng thời tăng mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại không xuất trình hóa đơn, chứng từ mới. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận khoản chi phí cứu chữa, phụ hồi sức khỏe, chi phí đi lại là phù hợp với các hóa đơn, chứng từ bị hại cung cấp; theo thông tin Tổng Công ty H2 cung cấp, bị hại nghỉ phép không hưởng lương 05 ngày, vợ bị hại có nghỉ phép nhưng vẫn hưởng lương, cấp sơ thẩm chấp nhận 10 ngày mất thu nhập, tuy nhiên bị cáo không kháng cáo; cấp sơ thẩm xác định khoản bù đắp tổn thất tinh thần tương đương với 20 tháng lương cơ sở là phù hợp. Vì vậy, đề nghị không chấp nhận kháng cáo tăng mức bồi thường.
- Luật sư của bị hại đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng thêm tình tiết tăng nặng nhưng đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức bồi thường với lý do cho đến thời điểm hiện tại bị hại chưa hoàn toàn hồi phục sức khỏe, cần tiếp tục phẫu thuật để nối gân và dây thần kinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Kháng cáo của bị hại trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Minh H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt Trần Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- [2.1] Chỉ từ mâu thuẫn nhỏ, bị cáo sẵn sàng sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn, hành vi dùng dao gây tổn hại 35% sức khỏe của bị hại thể
5
hiện thái độ co thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Theo đó, bị hại kháng cáo yêu cầu áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất côn đồ” là có căn cứ. Tuy nhiên, với mức tổn hại sức khỏe là 35%, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 năm 06 tháng tù là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của bị hại.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm quyết định mức bồi thường chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe là phù hợp với hóa đơn, chứng từ và chi phí thực tế. Kết quả xác minh tại Tổng Công ty H2, bị cáo nghỉ phép không hưởng lương 05 ngày, cấp sơ thẩm tính thêm 05 ngày chi phí công người chăm sóc là phù hợp. Với tổn hại sức khỏe 35% cùng, đến thời điểm hiện tại bị hại chưa hoàn toàn hồi phục, Hội đồng xét xử thấy cần tăng mức bồi thường tổn thất về tinh thần thành 30 tháng lương cơ sở, trường hợp bị hại tiếp tục phải điều trị thương tật do bị cáo gây ra, bị hại có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường bằng vụ án dân sự khác.
Vì vậy, cần buộc bị cáo bồi thường bị hại tổng số tiền 119.381.897 đồng, bao gồm:
- - Chi phí cứ chữa, phụ hồi sức khỏe: 53.472.291 đồng.
- - Chi phí thuê xe đi khám, chữa bệnh:2.500.000 đồng.
- - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe:2.250.000 đồng.
- - Thu nhập bị mất, tiền công người chăm sóc:7.159.606 đồng.
- - Bù đắp tổn thất về tinh thần:54.000.000 đồng.
Do có sự thay đổi về mức bồi thường, cần sửa phần án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp.
[3] Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt của bị hại; chấp nhận yêu cầu kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại.
6
-
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Trần Minh H 05 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2023.
- Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Buộc Trần Minh H bồi thường anh Lê Ngọc Q 119.381.897 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
- Sửa phần quyết định về án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo phải nộp 5.969.094 án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Sửa phần quyết định về án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
7
Bản án số 426/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 426/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh H - Cố ý gây TT
