|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 426/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-6-2025
Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Tiền;
- Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Trương Bảo Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 131/2025/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 439/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 479/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu Đ, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0379.473.xxx; (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0975.970.xxx (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu Đ trình bày như sau:
Bà và ông Trần Văn K chung sống với nhau vào năm 2008 do mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thời gian đầu sống chung rất hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vì ông có tính gia trưởng, hay cự cãi với nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống, ông K không chăm lo đời sống gia đình. Dù vợ chồng đã từng tìm cách để hàn gắn lại với nhau nhưng ông K vẫn không chịu thay đổi tính tình, vẫn thường xuyên xảy ra cự cãi với nhau. Chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, nay bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn K. Quá trình chung sống, có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013, Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020. Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/32020, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung và đồng ý giao 03 con chung tên Trần Thị Mỹ N, Trần Đoàn Tuấn K1, Trần Đoàn Tuấn A, cho ông K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà Đ không cấp dưỡng nuôi con chung. Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trần Văn K được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để tham gia các quá trình tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Thu Đ.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu Đ: Có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn xin vắng mặt và giữ yêu cầu ly hôn, nuôi con, không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung.
- Bị đơn ông Trần Văn K: Vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được được công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông K chung sống có đăng ký kết hôn là tuân theo quy định pháp luật. Quá trình Tòa án giải quyết, ông K không tham gia phiên hòa giải, phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Đ. Điều này cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà Đ và ông K có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà Đ là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, cho bà Đ được ly hôn với ông K.
Về con chung: Quá trình chung sống, có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013, Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/32020, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung và đồng ý giao 03 con chung tên Trần Thị Mỹ N, Trần Đoàn Tuấn K1, Trần Đoàn Tuấn A, cho ông K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà Đ không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, về việc nuôi con, bà Đ đồng ý giao 03 con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013 cho ông K nuôi, bà Đ trực tiếp nuôi Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020, ông K không có ý kiến gì về việc nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về việc giao con chung theo yêu cầu của bà Đ, do bà Đ không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan và không có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu Đ:
Theo lời trình bày của bà Đ: Giữa nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là phù hợp Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Thời gian chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, ông K không lo làm ăn, không chăm lo gia đình và thường xuyên cự cãi nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn, địa phương cung cấp thông tin về nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì không biết do các bên không có trình báo. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Trần Văn K biết được việc bà Đ yêu cầu ly hôn, nhưng ông K không đến Tòa án tham gia hòa giải để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ, không quan tâm nhau, điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị Thu Đ là có căn cứ và cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Đ và ông K có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013, Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020.
Khi ly hôn bà yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung và đồng ý giao 03 con chung tên Trần Thị Mỹ N, Trần Đoàn Tuấn K1, Trần Đoàn Tuấn A cho ông K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, về việc nuôi con, bà Đ đồng ý giao 03 con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013 cho ông K nuôi, bà Đ trực tiếp nuôi Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020, ông K không có ý kiến gì về việc nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận về việc giao con chung theo yêu cầu của bà Đ, do bà Đ không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét. Ông K không có ý kiến gì về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56, khoản 1, khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị Thu Đ. Bà Đoàn Thị Thu Đ được ly hôn với ông Trần Văn K.
-
Về con chung: Bà Đoàn Thị Thu Đ và ông Trần Văn K có 04 (bốn) con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013, Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020.
Bà Đoàn Thị Thu Đ giao con chung tên Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 23/7/2018, Trần Đoàn Tuấn K1, sinh ngày 12/11/2009, Trần Đoàn Tuấn A, sinh ngày 19/11/2013 cho ông Trần Văn K trực tiếp nuôi.
Ông Trần Văn K giao con chung tên Trần Đoàn Chiêu A1, sinh ngày 21/3/2020 cho bà Đoàn Thị Thu Đ trực tiếp nuôi.
Bà Đoàn Thị Thu Đ và ông Trần Văn K cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
-
Về cấp dưỡng nuôi con:
Bà Đoàn Thị Thu Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Trần Văn K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Đoàn Thị Thu Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0009439 ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Anh |
Bản án số 426/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 426/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
