|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 426/2023/DS - PT Ngày 02 - 11 - 2023 Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Chí Đức |
Các Thẩm phán: |
Ông Lê Văn Phận |
Bà Nguyễn Thị Rẻn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 250/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3395/2023/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1951; có mặt.
- Địa chỉ: Số nhà G ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Huỳnh Nhựt T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; có mặt.
- - Bị đơn: Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1961 (chết ngày 14/8/2017)
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Y gồm các ông (bà):
- Ông Võ Văn H1, sinh năm 1956 (có đơn xin vắng mặt ngày 23/10/2023)
- Địa chỉ: Ấp Thanh Sơn, xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
- Chị Võ Kim C, sinh năm 1982; có mặt.
- Địa chỉ: Số nhà E ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ – Luật sư công tác viên của Trung tâm trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B; có mặt.
- Người làm chứng do chị Võ Kim C triệu tập:
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1950; có mặt.
- Địa chỉ: Ấp Giao Hòa, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
- Bà Hồ Thị L, sinh năm 1951; có mặt.
- Địa chỉ: Ấp Giao Hòa, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
- Bà Đặng Thị L1, sinh năm 1966; có mặt.
- Địa chỉ: Ấp Giao Hòa, xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
- Bà Tăng Thị H2, sinh năm 1953; có mặt.
- Địa chỉ: Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre
- Bà Phạm Thị Đ1, sinh năm 1955; có mặt.
- Địa chỉ: Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964; có mặt.
- Địa chỉ: Ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
Nguồn gốc đất mà bà tranh chấp với bà Phạm Thị Y thuộc thửa 695, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre. Phần đất này trước năm 1975 bà được ông Tư T1 (ông T1 đã chết) cho bà Lê Thị N1, sinh năm 1949 sau đó bà N1 mới đổi đất với bà, không rõ diện tích là bao nhiêu và cũng không có chứng cứ, chứng minh. Nhưng bà đã sử dụng ổn định từ năm 1975 đến năm 1996 thì bà Phạm Thị Y là em ruột bà ngang nhiên đến chặt phá cây trồng và chiếm đất cất nhà ở. Thời gian sau, bà Phạm Thị Y đi khỏi địa phương, bà Y cho bà Tống Thị X ở nhờ trên đất, bà Y vẫn đi và về cho đến năm 2006, nhà bị sập bà Y về cất lại nhà để ở cho đến nay.
Phần đất này bà đã đăng ký, kê khai vào sổ địa chính năm 1998. Năm 2009, bà Phạm Thị Y chuyển nhượng cho ông Tăng Thành N2 một phần đất nên xảy ra tranh chấp. Do bà Phạm Thị Y lấn chiếm đất của bà nay bà Phạm Thị Y chết, bà khởi kiện yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Y phải trả lại phấn đất lấn chiếm qua đo đạc thực tế có diện tích 926,2 m² thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 19 (thửa cũ 695, tờ bản đồ số 02) tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre. Riêng đối với phần đất thuộc thửa 54, 55, 56, tờ bản đồ số 19 (thửa cũ 699, tờ bản đồ số 02) đã được giải quyết và bản án có hiệu lực. Phần đất này khi còn sống bà Phạm Thị Y và Võ Kim C đã bán cho người khác. Trên đất tranh chấp thửa 47, tờ bản đồ số 19 có 01 ngôi mộ của bà Phạm Thị Y và 01 căn nhà tạm, bà yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Y phải tháo dỡ di dời căn nhà trả lại đất, còn ngôi mộ của bà Phạm Thị Y thì bà đồng ý để trên đất không yêu cầu di dời.
Bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y là ông Võ Văn H1, bà Võ Kim C phải bồi thường thiệt hại cho bà đối với phần đất bề mặt là 279 m³ mà khi còn sống bà Phạm Thị Y đã bán, yêu cầu bồi thường theo biên bản của Hội đồng định giá là 39.060.000 đồng. Bà đồng ý với họa đồ hiện trạng sử dụng đất thửa số 47 tờ bản đồ số 19 (thửa cũ 695, tờ bản đồ số 02) diện tích 926,2 m², tọa lạc tại xã G, huyện T được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ký ngày 02/12/2020; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày và biên bản định giá tài sản ngày 11/12/2020 của Hội đồng định giá huyện T; không có yêu cầu đo đạc, định giá lại.
Người kế quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y là ông Võ Văn H1 trình bày:
Vào khoảng năm 1978 - 1979 ông và bà Phạm Thị Y xác lập hôn nhân với nhau, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới. Thời gian chung sống với bà Y đến năm 1983, bà Phạm Thị H được cha mẹ cho một phần đất khoảng 900 m², bà H có nhu cầu sang nhượng lại phần đất này để theo chồng về xã T sinh sống. Do bà H và bà Phạm Thị Y là chị em ruột, nên vợ chồng ông nhận sang nhượng đất của bà H với giá là 15 giạ lúa, ông và bà Y đã giao đủ lúa cho bà H, bà H giao đất cho vợ chồng ông canh tác, sử dụng. Do bà H và bà Y là chị em ruột nên khi sang nhượng không có làm giấy tờ, nhưng có nhiều người chứng kiến và biết việc sang nhượng này như ông Nguyễn Văn K, ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Phạm Thị Đ1. Phần đất này sau đó được đo đạc có diện tích 900 m², thuộc thửa 695, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Năm 1984 ông giữ chức vụ Xã Đ – Đội du kích xã G, huyện T, thấy hoàn cảnh gia đình ông khó khăn nên Ủy ban nhân dân xã G lấy phần đất sử dụng tự túc lương thực của Ủy ban giao cấp cho ông một phần đất, phần đất này liền kề với phần đất mà ông và bà Y nhận sang nhượng của bà H có diện tích khoảng 500m². Phần đất này sau đó được đo đạc có diện tích 527 m², thuộc thửa 699, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Ông và bà Y quản lý sử dụng phần đất này từ năm 1983, 1984 đến năm 1991 đã đóng thuế nông nghiệp đầy đủ, nhưng không có kê khai đăng ký. Năm 1991, vợ chồng mâu thuẫn, bà Y bỏ địa phương đi làm ăn xa, ông trở về xã T sinh sống, bà Y đã giao phần đất này cho chị ruột là bà Phạm Thị Đ1 nhờ canh tác và quản lý đất. Đến năm 1998, bà Y trở về địa phương cất nhà sinh sống và tiếp tục canh tác 02 phần đất trên, bà Phạm Thị H không có quản lý, sử dụng phần đất này, do khi bà Y vắng địa phương nên bà H tự ý đi kê khai, đăng ký.
Sau đó, bà Phạm Thị Y bị bệnh cần tiền chữa trị đã bán phần đất có nguồn gốc Ủy ban nhân dân xã G cấp cho ông có diện tích 527 m², thuộc thửa 699, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre. Phần đất còn lại có nguồn gốc mua của bà H diện tích 900 m², thuộc thửa 695, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre đến năm 2011 thì xảy ra tranh chấp với bà Phạm Thị H.
Nay bà Phạm Thị Y đã chết, đối với phần đất có nguồn gốc Ủy ban nhân dân xã G cấp cho ông có diện tích 527 m², thuộc thửa 699, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre bà Y đã bán cho người khác, ông không có tranh chấp. Đối với phần đất có nguồn gốc mua của bà Phạm Thị H, bà H tiếp tục tranh chấp thì ông không đồng ý. Ông và bà Phạm Thị Y có 01 người con chung tên là Võ Kim C là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Y, không đồng ý trả đất theo yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H vì phần đất này bà H đã bán cho ông và bà Phạm Thị Y. Bà Y đã quản lý canh tác đất và đóng thuế nông nghiệp đầy đủ, khi bà Y đi vắng địa phương bà Phạm Thị H tự kê khai đất, nhưng thực tế từ năm 1983 đến nay bà Phạm Thị H không có quản lý, sử dụng phần đất này. Đối với yêu cầu bồi thường đất bề mặt là 279 m³ lúc còn sống bà Y đã bán cho người khác, do lúc này ông không còn chung sống với bà Y nên không có nghĩa vụ đối với yêu cầu này.
Người kế quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y là bà Võ Kim C trình bày:
Phần đất mà bà Phạm Thị H tranh chấp với mẹ chị là Phạm Thị Y (đã chết) thuộc thửa 695, tờ bản đồ số 02, diện tích 900 m². Qua đo đạc Vlap thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 19, diện tích 926,2 m², tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre. Phần đất này có nguồn gốc của ông Phạm Văn N3 (là cha ruột của bà H và bà Y là ông ngoại của chị) được Ủy ban nhân dân xã G cấp, sau đó ông N3 cho bà Phạm Thị H. Đến năm 1983, bà H theo chồng về Thạnh Phong nên đã sang nhượng phần đất này lại cho mẹ chị là bà Phạm Thị Y với giá 15 giạ lúa, việc bà H sang nhượng đất bà Y có ông C1 (đã chết), ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị Đ1 chứng kiến.
Phần đất sau khi sang nhượng của bà H, bà Y đã canh tác trồng hoa màu từ năm 1983 đến năm 1991. Năm 1991 do cha mẹ chị mâu thuẫn, cha chị là ông Võ Văn H1 về quê nội sinh sống, mẹ chị là bà Y cùng chị bỏ địa phương đi làm ăn xa ở tỉnh Bình Phước, khi đi bà Y đã giao phần đất này cho chị ruột là bà Phạm Thị Đa canh t đất, giai đoạn này do bà Y không có mặt tại địa phương nên bà Phạm Thị H tự ý đi kê khai phần đất này. Đến năm 2001 bà Y cùng chị về địa phương và cất nhà ở trên đất cho đến nay.
Năm 2003, mẹ chị là bà Phạm Thị Y bệnh nặng nên đã chuyển nhượng một phần đất thửa 699, tờ bản đồ số 02, diện tích 527 m² có nguồn gốc đất Ủy ban nhân dân xã G cấp cho cha chị là ông Võ Văn H1 cho ông Nguyễn Văn C2, ông Lưu Văn V và bà Nguyễn Thị H3. Đến năm 2009 tiếp tục sang nhượng phần còn lại của thửa 699 cho ông Tăng Thành N2, ông Phạm Văn Đ2 và bà Nguyễn Thị L3 để lấy tiền trị bệnh và phần đất này thuộc thửa cũ là 699 tờ bản đồ số 02, diện tích 527 m² được giải quyết trong Bản án trước đây đã có hiệu lực pháp luật.
Nay bà Phạm Thị Y đã chết, bà Phạm Thị H tiếp tục yêu cầu bà Y trả lại phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 926,2 m² thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 19 (thửa 695, tờ bản đồ số 02, diện tích 900 m²) và bồi thường thiệt hại đất bề mặt đã bán là 279 m³ thì chị không đồng ý, vì phần đất này mẹ chị là bà Phạm Thị Y đã mua của bà Phạm Thị H từ năm 1983 với giá 15 giạ lúa và sử dụng ổn định cho đến nay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2013/DS-ST ngày 22/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú tuyên xử:
Căn cứ vào quy định tại các điều 25, 131, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các điều 105, 107, 136 Luật Đất đai.
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bác yêu cầu của bà Phạm Thị H và các thành viên trong hộ gia đình như: Trần Văn N4, Trần Thị H4, Trần Thị Minh Đ3, Trần Thị Hồng R, Trần Thị Hồng Y1 về việc yêu cầu bà Phạm Thị Y và ông Tăng Thành N2 phải giao trả cho bà diện tích 900 m² đất thuộc thửa đất số 695 và 527 m² đất thuộc thửa 699, tổng diện tích là 1.427 m² cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự còn nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số: 59/2013/DS-PT ngày 12/4/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị H.
Sửa Bản án sơ thẩm số: 40/2013/DS-ST ngày 22/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Áp dụng Điều 256 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Phạm Thị Y.
Buộc bà Phạm Thị Y giao trả cho bà Phạm Thị H 924 m² đất thuộc thửa số 695, tờ bản đồ số 2, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Phạm Thị Y với phần đất 527 m² thuộc thửa 699 (có họa đồ kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số: 215/2016/DS-GĐT ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
Chấp nhận Kháng nghị số 18B/2016/KN-DS ngày 11/4/2016 của Chánh án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm số: 59/2013/DS-PT ngày 12/4/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre và hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2013/DS-ST ngày 22/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Phạm Thị H với bị đơn bà Phạm Thị Y, ông Tăng Thành N2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú đưa vụ án ra xét xử với quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 161, 165, Điều 235 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26, 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và Phạm Thị H về việc yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y gồm ông Võ Văn H1, bà Võ Kim C phải tháo dỡ, di dời nhà tạm trả lại phần đất có diện tích 926,3 m² thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 19 (thửa cũ thuộc thửa 695, tờ bản đồ số 02) tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre.
(Có họa đồ kèm theo)
Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y gồm ông Võ Văn H1, bà Võ Kim C phải tháo dỡ, di dời 01 căn nhà tạm và 08 cây cột bê tông trả lại phần đất có diện tích 926,3 m² thuộc thửa 47, tờ bản đồ số 19 (thửa cũ thuộc thửa 695, tờ bản đồ số 02) tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre cho bà Phạm Thị H.
Ghi nhận bà Phạm Thị H tự nguyện giữ nguyên ngôi mộ của bà Phạm Thị Y trên thửa đất số 47, tờ bản đồ số 19 (thửa cũ là thửa số 695, tờ bản đồ số 02), tọa lạc tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre và bà H cam kết tạo điều kiện cho gia đình bà Phạm Thị Y tới lui thăm nom, chăm sóc ngôi mộ của bà Y.
Gia đình bà Phạm Thị Y khi tới lui thăm nom, chăm sóc ngôi mộ của bà Y không được làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị H.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và Phạm Thị H về việc yêu cầu những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Phạm Thị Y gồm ông Võ Văn H1, bà Võ Kim C phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với phần đất bề mặt là 279 m³ khi còn sống bà Phạm Thị Y đã bán với số tiền 39.060.000 đồng.
3. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 3.685.000 đồng, chi phí định giá 800.000 đồng, nguyên đơn bà Phạm Thị H tự nguyện chịu đã được quyết toán xong.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Võ Thị Kim C3 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ông Võ Văn H1 thuộc diện người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.
Bà Phạm Thị H thuộc diện người cao tuổi và người có công nên được miễn toàn bộ án phí.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị H không phải chịu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 426/2023/DS - PT ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 426/2023/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
