Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:426/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2025

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức – Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kiều Trang- Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 241/2025/TLST-HNGD ngày 09/04/2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXX-ST ngày 25/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐHPT-ST ngày 09/6/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Quỳnh L, sinh ngày 26/01/1990. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số C ngõ A phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Hải H, sinh ngày 09/12/1989. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: số C ngõ A phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại Đơn xin ly hôn, các Bản tự khai, Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn chị Trương Thị Quỳnh L trình bày:

Chị L và anh Hoàng Hải H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường G, quận L, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào. Hiện nay anh chị chung sống tại địa chỉ: số C ngõ A phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021, chị và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo chị trình bày, do chị và anh H có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và sự phát triển của con chung. Bản thân anh H cũng không quan tâm, chia sẻ, chăm sóc gia đình, con cái làm ảnh hưởng đến tâm lý, sinh hoạt của hai mẹ con. Anh chị đã tìm mọi cách để cải thiện mối quan hệ vợ chồng nhưng không có kết quả. Gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân của anh chị không tiến triển mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị L xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Sau thời gian suy nghĩ kỹ, chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hà Đông giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Hải H để chị sớm ổn định cuộc sống và tư tưởng.

Về con chung: Chị xác nhận chị và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Minh Hiếu S ngày 04/8/2014, giới tính nam. Con chung khoẻ mạnh phát triển bình thường. Chị đề nghị Toà án giao con chung là cháu Hoàng Minh H1 cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hoàng Minh H1.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Bị đơn là anh Hoàng Hải H:

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập, thông báo nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Anh H không đến Tòa án làm việc, không tham dự các buổi hoà giải, không gửi văn bản nêu quan điểm, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Chị Trương Thị Quỳnh L vắng mặt, chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án. Anh Hoàng Hải H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản, ý kiến trình bày quan điểm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Trên cơ sở các tài liệu và lời trình bày của đương sự trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H đã đến mức trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Quỳnh L. Chị L được ly hôn với anh Hoàng Hải H.
  • - Về con chung: Giao cháu Hoàng Minh H1 (nam), sinh ngày: 04/8/2014 cho chị Trương Thị Quỳnh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Do chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu H1 không ai được ngăn cản.
  • - Về tài sản chung (động sản, bất động sản), nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị Quỳnh L khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn là anh Hoàng Hải H, có hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện tại: số C ngõ A phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

1.2. Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn:

Qua xác minh nơi cư trú của anh Hoàng Hải H, có cơ sở xác định anh H có nơi cư trú và nơi ở hiện tại: số C ngõ A phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ, thông báo nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Hoàng Hải H tại địa chỉ nơi cư trú để anh H biết được yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Quỳnh L và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nhưng anh H đều vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không có yêu cầu phản tố và không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa theo quy định. Như vậy, anh H đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà chị Trương Thị Quỳnh L giao nộp và Tòa án thu thập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Chị Trương Thị Quỳnh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã gửi cho Toà án.

2. Về nội dung:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Quỳnh L đối với anh Hoàng Hải H:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trương Thị Quỳnh L và anh Hoàng Hải H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 06/6/2013 tại Ủy ban nhân dân phường G, quận L, Thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn anh chị chưa kết hôn lần nào. Tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị và anh H có tính cách, quan điểm, lối sống khác nhau nên cuộc sống vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, căng thẳng dẫn tới mâu thuẫn không thể giải quyết được. Anh chị đã tìm mọi cách để cải thiện mối quan hệ vợ chồng nhưng không tìm được tiếng nói chung. Gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng tình trạng hôn nhân không tiến triển mà ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị L xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Anh H đã được Toà án thông báo, triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên hoà giải, phiên toà và không gửi quan điểm nên Toà án tiến hành giải quyết vắng mặt theo quy định.

Nhận thấy, hai vợ chồng chị L, anh H đã không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là: thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Tình trạng hôn nhân của chị L, anh H cũng phù hợp với Biên bản xác minh ngày 26/5/2025 tại địa phương.

Từ những phân tích trên, xét quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng muốn ly hôn để ổn định cuộc sống. Xét yêu cầu ly hôn của chị L là chính đáng do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L với anh H.

2.2. Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là cháu Hoàng Minh Hiếu S ngày 04/8/2014, giới tính nam. Con chung khoẻ mạnh phát triển bình thường. Chị L đề nghị Toà án giao con chung là cháu Hoàng Minh H1 cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hoàng Minh H1.

Xét thấy: Theo trình bày của chị L, trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày anh H hay phải đi công tác, không có thời gian chăm sóc con chung. Theo văn bản trình bày nguyện vọng của cháu Hoàng Minh H1 cũng đồng ý được ở với mẹ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ đầy đủ cho anh H, triệu tập hợp lệ nhưng anh H không gửi cho Toà án quan điểm, ý kiến về việc nuôi con. Hiện chị L có công việc ổn định, chỗ ở hợp pháp tại địa chỉ đang cư trú, thời gian làm việc theo giờ hành chính nên có đủ điều kiện về thời gian, vật chất để nuôi con. Do đó, để con chung không bị ảnh hưởng sinh hoạt, thay đổi chỗ ở, phát triển bình thường về tâm sinh lý và để đảm bảo quyền lợi cho con, cần chấp nhận đề nghị và giao chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Minh H1 kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi cháu Hoàng Minh H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hoàng Minh H1.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Chị L là nguyên đơn, phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các Điều: 19, 51, 56, 57, 58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Quỳnh L đối với anh Hoàng Hải H. Chị Trương Thị Quỳnh L được ly hôn anh Hoàng Hải H.

2. Về con chung: Trương Thị Quỳnh L và anh Hoàng Hải H có 01 con chung là cháu Hoàng Minh Hiếu S ngày 04/8/2014, giới tính nam. Con chung khoẻ mạnh phát triển bình thường.

Giao chị Trương Thị Quỳnh L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hoàng Minh H1 kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi cháu Hoàng Minh H1 đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Anh Hoàng Hải H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trương Thị Quỳnh L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hoàng Minh H1.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị Quỳnh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trương Thị Quỳnh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0045114 ngày 09/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt chị Trương Thị Quỳnh L và anh Hoàng Hải H. Chị Trương Thị Quỳnh L và anh Hoàng Hải H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Mạnh T

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - UBND phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Mạnh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 426/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 426/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA.426.Liên - Hà.17.6.25
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger