TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 426/2025/DS-ST Ngày: 12-6-2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dânQuận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1093/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 435/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 713/2025/QÐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S;
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người được ủy quyền: Ông Lã Ngọc M, sinh năm: 1970;
Địa chỉ liên hệ: B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 1232/2023/UQ-TGD ngày 28/4/2023).
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Hữu T1, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: 9 đường Đ, tổ B, khu phố G (nay là khu phố A), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24/11/2022, bản tự khai, cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trình bày:
Ngày 19/11/2017, ông Trần Hữu T1 có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Trần Hữu T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 60.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Hữu T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.042.307.228 đồng.
Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Trần Hữu T1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 999.134.320 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trần Hữu T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Hữu T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/8/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng Thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 70.942.824 đồng sang nợ quá hạn (gọi là nợ gốc) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng x 150% = 3,9%/tháng lãi quá hạn).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Trần Hữu T1, yêu cầu ông Trần Hữu T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Trần Hữu T1 trả nợ, tuy nhiên ông Trần Hữu T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
Buộc ông Trần Hữu T1 phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/6/2025 là 234.828.426 đồng, trong đó: Nợ gốc là : 70.942.824 đồng; Lãi quá hạn là: 163.885.602 đồng.
Và ông Trần Hữu T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn liên tục vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Trần Hữu T1 phải trả tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Trần Hữu T1 ký ngày 19/11/2017, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 19/11/2017, của ông Trần Hữu T1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, có cung cấp cho ngân hàng giấy tờ nhân thân thể hiện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 444 đường Ụ, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ ở H: 9 đường Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đơn khởi kiện ngân hàng đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông Trần Hữu T1 tại địa chỉ 9 đường Đ, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả xác minh ngày 12/01/2023 của Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh: Đương sự Trần Hữu T1, sinh năm: 1988 hiện nay
không còn cư trú tại địa chỉ 9 tổ B, khu phố G, phường T, Quận A. Đi đâu không rõ từ ngày 30/6/2019 đến nay.
Theo kết quả xác minh ngày 30/3/2023 của Công an P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh: Trần Hữu T1 – SN: 30/4/1988 – HKTT trước đây là 444 Ụ C, Phường A, Quận H, TP H. Ngày 30/7/2020 đã chuyển nơi đăng ký thường trú mới về D T, Trường T2, H, Tây Ninh.
Theo kết quả xác minh ngày 11/5/2023 của Công an xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh: ông Trần Hữu T1, SN: 1988 có hộ khẩu thường trú tại số C đường H, tổ B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Hiện nay qua kiểm tra hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia thể hiện: ông Trần Hữu T1 đang tạm trú tại số F T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả xác minh ngày 06/6/2023 của Công an P1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh: Đs Trần Hữu T1, SN: 1988 không tạm trú tại địa chỉ 6 T, Phường A, quận T, TP H.
Như vậy, ông Trần Hữu T1 thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, trốn tránh nghĩa vụ đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do đó Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Xét về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về hợp đồng tín dụng:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của ông Trần Hữu T1 ký ngày 19/11/2017 với ngân hàng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thể hiện ông T1 có sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, số thẻ 356481-5789, hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng, mục đích: Tiêu dùng cá nhân. Lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.
Nguyên đơn và ông T1 giao kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ theo quy định tại các Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng thì hợp đồng tín dụng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các bên thỏa thuận.
Bị đơn ông Trần Hữu T1 được Thừa phát lại niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, niêm yết Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến tòa để trình bày, cung cấp chứng cứ. Do đó, việc ông T1 không đến tòa tức tự khước từ quyền được trình bày những lý lẽ, khước từ quyền được tiếp cận công khai chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không thực hiện nghĩa vụ giao nộp tài liệu chứng cứ (nếu có) để được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và mặc nhiên công nhận lời khai và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình.
[3.2] Về số tiền nợ của thẻ tín dụng:
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Hữu T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.042.307.228 đồng. Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Trần Hữu T1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 999.134.320 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông T1 đã không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 01/8/2020 ngân hàng đã chấm dứt quyển sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn của ông T1. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 70.942.824 đồng sang nợ quá hạn (gọi là nợ gốc) và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng x 150% = 3,9%/tháng lãi quá hạn). Tính đến ngày 12/6/2025 ông T1 còn nợ ngân hàng số tiền là 234.828.426 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 70.942.824 đồng; Lãi quá hạn là: 163.885.602 đồng.
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy Ngân hàng Thương mại Cổ phần S áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn là 3,9%/tháng (tương đương 150% lãi suất cho vay) là phù hợp với nội dung thỏa thuận giữa các bên và với quy định của pháp luật nên việc ngân hàng yêu cầu ông T1 thanh toán các khoản tiền lãi trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông T1 phải thanh toán một lần số tiền gốc và lãi 234.828.426 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 13/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ gốc và tiền lãi theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí là
3.620.396 (ba triệu sáu trăm hai mươi nghìn ba trăm chín mươi sáu) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022480 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn ông Trần Hữu T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.741.421 (mười một triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi mốt) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, 35,39, 144, 147, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc ông Trần Hữu T1 phải thanh toán một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 12/6/2025 là: 234.828.426 (hai trăm ba mươi bốn triệu tám trăm hai mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc là: 70.942.824 (bảy mươi triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm hai mươi bốn) đồng; lãi quá hạn là: 163.885.602 (một trăm sáu mươi ba triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm lẻ hai) đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 13/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Hữu T1 còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Hữu T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.741.421 (mười một triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi mốt) đồng. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí là 3.620.396 (ba triệu sáu trăm hai mươi nghìn ba trăm chín mươi sáu) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022480 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ngân |
Bản án số 426/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 426/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
