|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 426/2024/HSST
Ngày: 27-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Chi
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 270/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 476/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Nam S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1995; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKNKTT: F B đường N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 7 /12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Nam H; Mẹ: Phạm Thị Thu H1; Vợ: Trịnh Thị Thùy T; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự : không; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 01/12/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Chị Trần Thị Kiều N, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 đường B, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Anh Trịnh Phong V (vắng mặt)
Địa chỉ: Cả N, P, G, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ ngày 01/12/2023, Công an phường T, thành phố T đi tuần tra đến trước bãi đất trống, cuối đường A, Khu phố D, phường T, thành phố T phát hiện Nguyễn Nam S điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển số 68F1-00892 chở theo Trần Thị Kiều N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Khi thấy cơ quan công an, S lấy gói ma túy trong túi quần phía trước bên phải ý định bỏ đi, nhưng bị tổ tuần tra công an phường phát hiện bên trong lòng bàn tay phải của S có gói nylon chứa tinh thể không màu, S khai nhận là ma túy đá S mua với giá 500.000 đồng, mục đích cất giấu là để sử dụng cho bản thân S. Tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong và đưa toàn bộ về trụ sở Công an phường.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Nam S khai nhận: S sử dụng ma túy đá từ tháng 8/2023. S làm bốc xếp thuê tại chợ đầu mối nông sản T nên biết đối tượng T1 (không rõ nhân thân lai lịch) cũng làm bốc xếp tại đây có sử dụng ma túy đá. Lần thứ nhất, vào tháng 8/2023, S nhờ T1 mua cho S 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng và đã sử dụng hết. Do có nhu cầu sử dụng, đến khoảng 13 giờ ngày 01/12/2023, khi gặp T1 tại chợ đầu mối nông sản T, S lại nhờ T1 mua cho mình 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng, S trả trước bằng tiền mặt. T1 nhận tiền rồi bỏ đi, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì quay lại đưa cho S 01 gói nylon chứa ma túy đá. S đem gói ma túy về phòng trọ, lấy một ít ra sử dụng một mình. Tuy nhiên, do lo sợ người khác biết được nên S không sử dụng nữa và cất gói nylon chứa số ma túy đá còn lại vào túi quần bên phải, phía trước của S đang mặc trên người. Khoảng 17 giờ cùng ngày, S gọi điện thoại rủ bạn gái là Trần Thị Kiều N đi chơi, N đồng ý nên S đi bộ đến nhà Nga, sau đó mượn xe mô tô BS 68F1-00892 chở N đến khu vực chòi câu cá trong khu đất trống ở cuối Đường A, Khu phố D, phường T, thành phố T để tâm sự nhưng khi mới đi đến trước khu đất trống thì bị Công an yêu cầu kiểm tra và phát hiện bắt quả tang như nội dung trên. S khai mua và cất giữ trái phép chất ma túy chỉ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích gì khác, tiền mua ma túy là của cá nhân S do đi làm mà có, không ai góp tiền mua ma túy và sử dụng chung với S. Mục đích S rủ N đi cùng đến khu vực chòi câu cá là để tâm sự, không có sự bàn bạc, rủ rê N sử dụng ma túy, S cũng không cho N biết việc S có mang theo ma túy trong người.
Trần Thị Kiều N khai nhận: N là bạn gái của S quen biết nhau được hơn 01 tháng. S rủ N đến khu vực chòi câu là để tâm sự, không rủ rê bàn bạc về việc sử dụng ma túy, N cũng không biết S mang theo ma túy trong người khi đi cùng. Bản thân N không hùn tiền mua ma túy chung với S. N có sử dụng ma túy đá từ khoảng tháng 9/2023. N khai trước đó 03 ngày có sử dụng ma túy khi đi sinh nhật bạn ở khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với S và N cho kết quả Dương tính với ma túy đá.
Kết luận giám định số 13526/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5565 gram, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ và kết quả xử lý vật chứng:
- - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định nhanh là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, khối lượng 0,5565 gam.
- - 01 ĐTDĐ Vivo 1716 số IMEI 1: 866072038610533; số IMEI 2: 866072038610525 có số thuê bao 0397908788;
- - 01 xe mô tô hiệu Airblade BS: 68F1-008.92, Số máy: JF27E-1464617, số khung: RLHJF2701BY519597.
Cáo trạng số 268/CT-VKSTPTĐ ngày 20/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Nam S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Nam S từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù;
Về vật chứng vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Nam S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 01/12/2023, Tổ tuần tra thuộc Công an phường T, thành phố T đang tuần tra đến trước bãi đất trống ở cuối Đường A, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang Nguyễn Nam S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 0,5565 gram loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi Nguyễn Nam S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Nam S về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Nam S là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn do đó cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Đối với Trần Thị Kiều N không biết S tàng trữ trái phép chất ma túy trong người nên không có căn cứ xử lý hình sự là có căn cứ.
[6] Đối với đối tượng T1 (không rõ lại lịch) đã bán ma túy cho Nguyễn Nam S, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau.
[7] Xử lý vật chứng:
- - 01 gói niêm phong ghi vụ 2632/23 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định là tinh thể không màu có khối lượng 0,4891 gam là tang vật trong vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 ĐTDĐ hiệu Vivo 1716 số IMEI 1: 866072038610533; số IMEI 2: 866072038610525 có số thuê bao 0397908788 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Nam S.
- - 01 xe mô tô hiệu Airblade BS: 68F1-008.92, Số máy: JF27E-1464617, số khung: RLHJF2701BY519597, S khai mượn của H2 nhưng không biết nhà H2 ở đâu nên giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm kiếm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm nếu hết thời hạn thông báo tìm kiếm mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nam S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Nam S 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ 2632/23 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định là tinh thể không màu có khối lượng 0,4891 gam.
Trả lại: 01 ĐTDĐ Vivo 1716 số IMEI 1: 866072038610533; số IMEI 2: 866072038610525 có số thuê bao 0397908788 cho bị cáo Nguyễn Nam S.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm kiếm chủ sở hữu đối với xe mô tô hiệu Airblade BS: 68F1-00892, Số máy: JF27E-1464617, số khung: RLHJF2701BY519597 trong thời hạn 01 năm nếu hết thời hạn thông báo tìm kiếm mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/265C ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Nam S chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 426/2024/HSST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 426/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nam S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
