TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ BÁCH VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 426/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và
Gia đình”.
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung
- Các hội thẩm nhân dân: Nguyễn Hồ Cảnh và Võ Duy Bảo
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 255/2024/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 406/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ngọc N, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Việt B, sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện đang trú tại: Lào. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Việt B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 19/12/2016. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tình cảm và hạnh phúc được 3 năm. Sau một thời gian chung sống và sinh con thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hiện nay cợ chồng đã sống ly thân được 3 năm. Anh B hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Lào, anh B không cung cấp địa chỉ của mình và vợ chồng cũng không liên lạc với nhau nên chị N không biết địa chỉ của anh B ở nước ngoài. Hiện tại chị Trương Thị Ngọc N nhận thấy quan điểm và tính cách của vợ chồng thay đổi, phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt và không thể hòa hợp được nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Việt B.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo N1, sinh ngày 07/8/2017 đang ở với chị N; nếu vợ chồng ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Việt B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía anh Nguyễn Việt B: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu anh Nguyễn Việt B có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh B theo thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại anh Nguyễn Việt B vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Theo trình bày của bà Trần Thị T (mẹ đẻ của anh B) thì anh B có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ hiện tại của anh B ở đâu và anh B đã biết việc chị N làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, anh B có thông tin cho gia đình là anh đồng ý ly hôn với chị Trương Thị Ngọc N. Tuy nhiên, đến ngày xét xử vụ án anh B không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
- - Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Anh Nguyễn Việt B hiện đang ở Lào nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- - Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và B vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và Bách vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.
- - Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo bà Trần Thị T (mẹ đẻ của anh B) cung cấp thông tin hiện nay anh B đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh B thường xuyên gọi điện thoại về cho gia đình; anh B đã biết được việc chị N xin ly hôn, anh B đồng ý ly hôn nhưng cho đến ngày mở phiên tòa xét xử anh B không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Việc anh B vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và xử cho chị Trương Thị Ngọc N được ly hôn với anh Nguyễn Việt B.
- - Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Thị Bảo N1, sinh ngày 07/8/2017 cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị N không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu và anh B chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị N trình bày anh Nguyễn Việt B đang ở Lào nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của anh B là bà Trần Thị T (mẹ đẻ của anh B) cung cấp thông tin hiện nay anh B đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng anh B thường xuyên gọi điện cho gia đình. Ngày 15/7/2024, Cục Q Bộ C có công văn số 15192/QLXNC-P3 cung cấp thông tin anh Nguyễn Việt B xuất cảnh gần nhất ngày 19/5/2024 qua cửa khẩu L, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Do anh B trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị T (mẹ đẻ của anh B) cung cấp hiện nay anh B đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nhưng không biết địa chỉ cụ thể; anh B vẫn gọi điện thoại về cho gia đình và đã biết được chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án, anh B đồng ý ly hôn nhưng cho đến ngày mở phiên tòa xét xử anh B không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, anh B đã biết được chị N yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Chị Trương Thị Ngọc N đề nghị giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Việt B. Xét thấy, chị N, anh B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống xa nhau, chị N ở Việt Nam, anh B ở nước ngoài. Do vợ chồng sống xa nhau, không liên lạc với nhau nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho chị Trương Thị Ngọc N được ly hôn với anh Nguyễn Việt B là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Theo chị N trình bày, chị và anh B có 01 con chung. Nay ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của chị N phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định của pháp luật vì hiện nay chị N là người trực tiếp nuôi con còn anh B đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Căn cứ
vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị N. Giao cho chị Trương Thị Ngọc N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo N1, sinh ngày 07/8/2017 đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết
[4] Tài sản chung và nợ chung: chị Trương Thị Ngọc N không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Việt B vắng mặt chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trọng vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[5] Về án phí: Chị Trương Thị Ngọc N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trương Thị Ngọc N
- Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Ngọc N được ly hôn với anh Nguyễn Việt B.
- Về con chung: Giao cho chị Trương Thị Ngọc N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo N1, sinh ngày 07/8/2017 đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị Trương Thị Ngọc N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Việt B có quyền, B vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này, dành quyền khởi kiện cho các đương sự trong một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Trương Thị Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0012945 ngày 20 tháng 06 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Ngọc N vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Việt B vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quang Trung |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Hồ Cảnh Võ Duy Bảo | Nguyễn Quang Trung |
Bản án số 426/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 426/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
