Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 4257/2024/DS-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 588/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5649/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6675/2024/QĐST- DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N

Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Ưu T, sinh năm: 1991 (Văn bản ủy quyền ngày 17/3/2023) (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Bà Trần Thị Bé T1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Số G đường N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Phan Thanh P, sinh năm: 1986 (có đơn xin vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số C Đường số B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1968 (có mặt).
  2. Bà Triệu Trúc M, sinh năm : 1968 (có đơn xin vắng mặt).
  3. Trẻ Ngô Tuấn K, sinh năm : 2015.

Cùng địa chỉ: Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của trẻ K có ông Nguyễn Văn H và bà Triệu Trúc M.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngân hàng N có ông Đỗ Ưu T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 26 tháng 08 năm 2022, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P đã ký Hợp đồng tín dụng số 1940-LAV-202200280 tại Ngân hàng N - Chi nhánh T2 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), nội dung chi tiết như sau: Tổng mức cấp tín dụng là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu đồng); Mục đích vay: Thanh toán chi phí mua nhà ở và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa lạc tại Thửa đất số 39; Tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh: Diện tích đất 48,4m²; Diện tích sàn 48,4m² để ở.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất số 39; Tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BP298018, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 21251 do Ủy ban nhân dân Quận F, cấp ngày 26/02/2014, đã cập nhật chủ sở hữu ngày 14/10/2022. Hiện đang thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 1940-LCL-202200268 do Văn phòng C chứng nhận ngày 20/10/2022, số công chứng 000008351, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD; được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 21/10/2022.

Tài sản được định giá 3.200.000.000 tỷ đồng theo Biên bản xác định giá trị tài sản số 1940-LCA-20220309 ngày 20/10/2022.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên bà T1 và ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 74.470.057 đồng, trong đó: Nợ gốc là 20.840.000 đồng; Nợ lãi là 53.630.057 đồng.

Tạm tính đến ngày 10/9/2024, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc: 2.479.160.000 đồng; Nợ lãi: 534.164.828 đồng. Tổng cộng: 3.013.324.828 đồng (Ba tỷ không trăm mười ba triệu ba trăm hai mươi tư nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).

Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn thanh toán lãi kể từ ngày 13/12/2022, Ngân hàng đã thông báo, làm việc yêu cầu bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P trả nợ đối với khoản vay nêu trên nhưng bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P đến nay vẫn chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Ngân hàng N đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Tuyên buộc bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 10/9/2024 là: 3.013.324.828 đồng (Ba tỷ không trăm mười ba triệu ba trăm hai mươi tư nghìn tám trăm hai mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 2.479.160.000 đồng và nợ lãi: 534.164.828 đồng (Lãi trong hạn là 522.592.207 đồng và lãi quá hạn là 11.572.621 đồng).

    Ngoài ra, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 1940-LAV-202200280 ngày 26/8/2022 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án quyết định cho đến ngày thực tế bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.

  2. Trường hợp bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại địa chỉ số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BP298018, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 21251 do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 26/02/2014, đã cập nhật chủ sở hữu ngày 14/10/2022.

    Ngoài ra, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng N thì bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, ưu tiên cho Ngân hàng N phát mại tài sản để thu hồi nợ.

Bị đơn – bà Trần Thị Bé T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Bị đơn - ông Phan Thanh P có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án nhưng có bản tự khai ngày 08/6/2023 với nội dung trình bày:

Ngày 26/8/2022, tại Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố T2 tôi có vay 2.500.000.000 đồng để thanh toán chi phí mua nhà và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa lạc tại Thửa đất số 39; Tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi có ký Hợp đồng thế chấp tài sản trên cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông P và bà Trần Thị Bé T1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi tính đến ngày 16/3/2023 là 2.577.157.000 ông P không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 03/5/2024, ông P trình bày:

Đối với số tiền 600.000.000 đồng bà Trần Thị Bé T1 vay của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, đây là nợ riêng của bà T1, ông không liên quan. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông P xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ngày 27/8/2022, tôi có cho bà Trần Thị Bé T1 vay số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng có lập Hợp đồng vay tiền ký công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ: Số A Đường C, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc vay mượn không có lãi suất. Tôi đã giao đủ số tiền 600.000.000 đồng cho bà Trần Thị Bé T1. Số tiền 600.000.000 đồng cho bà T1 vay là tài sản chung của tôi và vợ tôi là bà Triệu Trúc M.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên bà T1 đã cầm cố cho vợ chồng tôi nhà đất tại địa chỉ số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên có lập Hợp đồng cầm cố tài sản vào ngày 27/8/2022. Sau khi ký Hợp đồng vay tại Văn phòng C2 tôi đã sinh sống tại nhà đất số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cho tới hiện nay.

Vào ngày 20/3/2024, tôi có nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 588/TBTLVA ngày 11/4/2023 và giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức để lên Tòa án làm việc. Tại thời điểm này tôi mới biết Ngân hàng N khởi kiện bà Trần Thị Bé T1 với nội dung: Yêu cầu Toà án buộc bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải trả ngay cho Ngân hàng N số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 16/3/2023 là 2.577.157.640 đồng (gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn). Trong đó, dư nợ gốc: 2.479.160.000 đồng, lãi trong hạn: 97.670.980 đồng, lãi quá hạn: 326.660 đồng; Nếu bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì tuyên phát mại tài sản đảm bảo để thu nợ là nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BP298018, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 21251 do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 26/02/2014, đã cập nhật chủ sở hữu ngày 14/10/2022. Điều này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng tôi. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tôi nên tôi có yêu cầu độc lập trong vụ án này, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu bà Trần Thị Bé T1 trả lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Triệu Trúc M số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 00022404 do Công chứng viên Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S ký công chứng, ký giữa ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Bé T1 ngày 27/8/2022.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Triệu Trúc M trình bày:

Ngày 27/8/2022, chồng tôi là ông Nguyễn Văn H có cho bà Trần Thị Bé T1 vay số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng có lập Hợp đồng vay tiền ký công chứng tại Văn phòng C1, địa chỉ: Số A Đường C, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc vay mượn không có lãi suất. Ông H đã giao đủ số tiền 600.000.000 đồng cho bà Trần Thị Bé T1. Số tiền 600.000.000 đồng cho bà T1 vay là tài sản chung của vợ chồng tôi.

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên thì bà T1 đã cầm cố cho vợ chồng tôi nhà đất tại địa chỉ số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên có lập Hợp đồng cầm cố tài sản vào ngày 27/8/2022. Sau khi ký Hợp đồng vay tại Văn phòng C2 tôi đã sinh sống tại nhà đất số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cho tới hiện nay.

Vào ngày 20/3/2024, tôi và ông H có nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 588/TBTLVA ngày 11/4/2023 và giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức để lên Tòa án làm việc. Tại thời điểm này tôi mới biết Ngân hàng N khởi kiện bà Trần Thị Bé T1 với nội dung: Yêu cầu Toà án buộc bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải trả ngay cho Ngân hàng N số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 16/3/2023 là 2.577.157.640 đồng (gồm vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn). Trong đó, dư nợ gốc: 2.479.160.000 đồng, lãi trong hạn: 97.670.980 đồng, lãi quá hạn: 326.660 đồng; Nếu bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì tuyên phát mại tài sản đảm bảo để thu nợ là nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BP298018, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 21251 do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 26/02/2014, đã cập nhật chủ sở hữu ngày 14/10/2022. Điều này đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng tôi. Tôi thống nhất với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H trong vụ án này, yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu bà Trần Thị Bé T1 trả lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Triệu Trúc M số tiền 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 00022404 do Công chứng viên Văn phòng công chứng Nguyễn Thị S ký công chứng, ký giữa ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Bé T1 ngày 27/8/2022.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

1. Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án án nhân dân thành phố T cần rút kinh nghiệm.

2. Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Nguyên đơn - Ngân hàng N – Chi nhánh Thành phố T2 khởi kiện bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Theo Hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Tòa án có thẩm quyền tại nơi đóng trụ sở của Ngân hàng N - Chi nhánh Thành phố T2. Ngân hàng có Đơn lựa chọn thẩm quyền giải quyết. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.

[2] . Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào kết quả Phiếu yêu cầu xác minh số 8617/PYCXM, ngày 04/12/2023 Công an P1, Quận F cho biết: Bà Trần Thị Bé T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số G đường N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện không thực tế cư ngụ tại địa phương, không rõ nơi đi.

Bị đơn - ông Phan Thanh P có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Triệu Trúc M có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào kết quả Phiếu yêu cầu xác minh số 8618/PYCXM, ngày 04/12/2023 Công an phường P1, Quận F cho biết: Tại địa chỉ Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968.
  2. Bà Triệu Trúc M, sinh năm 1968.
  3. Trẻ Ngô Tuấn K, sinh năm 2015.

Cả 3 nhân khẩu nói trên hiện thực tế cư trú tại địa chỉ trên, không đăng ký thường trú và tạm trú.

Do không biết bà T1 hiện đi đâu nên không tống đạt trực tiếp được, áp dụng Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bà Trần Thị Bé T1 theo xác minh cư trú mà Công an cung cấp theo quy định của pháp luật.

Trong tất cả các lần Tòa triệu tập, bà Trần Thị Bé T1 đều vắng mặt không có lý do. Bà T1 thay đổi địa chỉ, không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án nhằm mục đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 26 tháng 08 năm 2022, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P đã ký Hợp đồng tín dụng số 1940-LAV-202200280 tại Ngân hàng N - Chi nhánh T2, nội dung chi tiết như sau: Tổng mức cấp tín dung: 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng); Mục đích vay: Thanh toán chi phí mua nhà ở và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa lạc tại Thửa đất số 39; Tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh: Diện tích đất 48,4m²; Diện tích sàn 48,4m² để ở. Tài sản được định giá 3.200.000.000 tỷ đồng theo Biên bản xác định giá trị tài sản số 1940-LCA-20220309 ngày 20/10/2022.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên bà T1 và ông P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 74.470.057 đồng, trong đó: Nợ gốc là 20.840.000 đồng; Nợ lãi là 53.630.057 đồng.

Tạm tính đến ngày 10/9/2024, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 2.479.160.000 đồng; Nợ lãi: 534.164.828 đồng. Tổng cộng: 3.013.324.828 đồng (Ba tỷ không trăm mười ba triệu ba trăm hai mươi tư nghìn tám trăm hai mươi tám đồng). Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn thanh toán lãi kể từ ngày 13/12/2022.

Như vậy, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Căn cứ theo điều khoản và điều kiện vay đính kèm Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn tất cả các khoản cấp tín dụng chưa thanh toán và xử lý tài sản bảo đảm khi bên vay vi phạm bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, phí và các nghĩa vụ khác phát sinh từ Hợp đồng tín dụng.

Vào ngày 11/4/2023, Ngân hàng đã có biên bản làm việc với bà Trần Thị Bé T1 về việc nợ quá hạn và cam kết sau ngày 25/4/2023 sẽ thanh toán 20.000.000 đồng thu nợ gốc và cam kết trong vòng 6 tháng sẽ thanh toán ít nhất 20.000.000 đồng/tháng. Trường hợp không trả được nợ thì giao tài sản cho Ngân hàng phát mại để thu hồi nợ. Tuy nhiên, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P vẫn không thực hiện. Do đó, ngày 26/4/2023 Ngân hàng ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay trên.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải trả số tiền nợ gốc là: 2.479.160.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

[3.2] Xét yêu cầu nợ lãi như sau:

Do bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên theo thỏa thuận tại Điều 2 quy định về lãi suất cho vay, lãi chậm trả, phí tại Hợp đồng tín dụng số 1940-LAV-202200280 ngày 26/8/2022, như sau:

  • Phương thức áp dụng lãi suất: Có điều chỉnh;
  • Mức lãi suất: Trong hạn 10,00%/năm;
  • Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và được quy định trong hợp đồng. Nên có căn cứ chấp nhận.

Do đó, tính đến ngày xét xử số tiền lãi được tính cụ thể như sau:

Nợ gốc là 2.479.160.000 đồng;

Lãi trong hạn là 522.592.207 đồng;

Lãi quá hạn là 11.572.621 đồng;

Tổng cộng là 3.013.324.828 đồng (Ba tỷ không trăm mười ba triệu, ba trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi tám đồng).

Ngoài ra, bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1940-LAV-202200280 ngày 26/8/2022 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án quyết định cho đến ngày thực tế bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.

[3.3] Xét yêu cầu phát mại tài sản như sau:

Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất số 39; Tờ bản đồ số 64, địa chỉ: Số E đường L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BP298018, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 21251 do Ủy ban nhân dân Quận F, cấp ngày 26/02/2014, đã cập nhật chủ sở hữu ngày 14/10/2022. Hiện đang thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số: 1940-LCL-202200268 do Văn phòng C chứng nhận ngày 20/10/2022, số công chứng 000008351, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD; được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 21/10/2022. Tài sản được định giá 3.200.000.000 tỷ đồng theo Biên bản xác định giá trị tài sản số 1940-LCA-20220309 ngày 20/10/2022.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thể hiện hiện trạng nhà đất không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp.

Như vậy, yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm trong trường hợp bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P không thanh toán được nợ của Ngân hàng là có căn cứ để chấp nhận.

Trường hợp bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P thanh toán đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản thế chấp thì Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa thế chấp và trả lại những tài liệu đã nhận của bà Trần Thị Bé T1 là bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BP298018, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 21251 do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 26/02/2014, đã cập nhật chủ sở hữu ngày 14/10/2022.

Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại lớn hơn số nợ mà bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P còn phải thanh toán cho Ngân hàng thì bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này. Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại nhỏ hơn số nợ mà bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P còn phải thanh toán cho Ngân hàng N thì bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P có trách nhiệm thanh toán nốt số nợ còn lại.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H về việc thanh toán khoản tiền vay:

Buộc bà Trần Thị Bé T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn H và bà Triệu Trúc M số tiền 600.000.000 (Sáu trăm triệu đồng) theo Hợp đồng vay tiền số 00022404, quyển số 08/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/8/2022 tại Văn phòng C1, địa chỉ: Số A Đường C, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc trả tiền được thực hiện một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông Nguyễn Văn H và bà Triệu Trúc M có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Trần Thị Bé T1 chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì hàng tháng, bà Trần Thị Bé T1 còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Mức lãi suất được xác định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về chi phí tố tụng:

Ngân hàng N đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên các bị đơn bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho Ngân hàng N theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Về án phí:

Ngân hàng N được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên các bị đơn phải chịu án phí. Bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 92.266.497 đồng (Chín mươi hai triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng).

Ngân hàng N không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 41.771.576 đồng (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi sáu đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0002683 ngày 04/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Trần Thị Bé T1 và ông Phan Thanh P chưa nộp án phí.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Văn H được chấp nhận yêu cầu độc lập nên bị đơn – bà Trần Thị Bé T1 phải chịu án phí phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng). Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) theo biên lai thu số 0026722 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ngân hàng N, ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Thị Bé T1, ông Phan Thanh P và bà Triệu Trúc M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án./.


Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp.Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS Tp. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4257/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 4257/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger