TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 4256/2024/KDTM-ST Ngày: 10/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức: Bà Nguyễn Ngọc Bích – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 517/2023/TLST - KDTM ngày 08 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5644/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6676/2024/QÐST-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S;
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ
Trụ sở: Số D đường N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Minh H, sinh năm 1979 hoặc bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 2000 (Văn bản ủy quyền số 2011/2023/UQ ngày 20/11/2023).
Trụ sở: Số G đường N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy H1, sinh năm 1978
Địa chỉ: Số G đường N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Công ty Cổ phần S Nhà có bà Nguyễn Thị Phương L là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 15/8/2021, giữa Công ty Cổ phần S (sau đây gọi tắt là “Công ty S" - Bên bán) và Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là “Công ty Đ" - Bên mua) đã ký kết Hợp đồng kinh tế số 825/2021/HDKT/TGN và các Phụ lục về việc cung cấp bê tông thương phẩm phục vụ thi công dự án Nova World H - The Tropicana/The F tại xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Ngày 29/5/2023, tại Công văn số 11/2023/CV-PC/CLG Công ty Đ đã xác nhận công nợ gốc của: Hợp đồng 1224/2020/HĐMB/CAL-TGN ngày 12/11/2020 kèm Phụ lục: Hợp đồng 1232/2020/HĐMB/CAL-TGN ngày 01/7/2020 kèm Phụ lục; Hợp đồng 825/2021/HĐKT/TGN ngày 15/8/2021 với tổng số tiền là 7.037.010.259 đồng (Bảy tỷ không trăm ba mươi bảy triệu không trăm mười nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).
Ngày 14/7/2023, giữa Công ty S và Công ty Đ đã cấn trừ công nợ của các Hợp đồng nêu trên với tổng số tiền là 6.000.000.000 đồng. Tại Biên bản đối chiếu và thỏa thuận bù trừ công nợ số 01/BBBTCN/CLG-TGN ngày 14/7/2023, Công ty Đ đã xác nhận công nợ còn lại là 1.037.010.259 đồng và cam kết thanh toán số tiền còn lại trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hai bên ký biên bản bù trừ công nợ. Do đó, Công ty S đã thu hồi công nợ của 02 Hợp đồng năm 2020 (Hợp đồng số 1224/2020/HĐMB/CAL-TGN và Hợp đồng 1232/2020/HĐMB/CAL-TGN), công nợ còn lại là của Hợp đồng 825/2021/HĐKT/TGN ngày 15/8/2021. Số tiền nợ gốc còn lại mà Công ty Đ chưa thanh toán cho Công ty S là: 1.037.010.259 đồng (Một tỷ không trăm ba mươi bảy triệu không trăm mười nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).
Sau khi nộp đơn khởi kiện, Công ty S đã nhiều lần liên hệ làm việc yêu cầu Công ty Đ thanh toán công nợ. Tuy nhiên, Công ty Đ chỉ mới thanh toán cho Công ty S số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho Công ty S vào ngày 02/02/2024.
Tính đến ngày 10/9/2024, Công ty cổ phần Đ còn nợ Công ty Cổ phần S Nhà tổng số tiền 1.017.791.363 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là: 937.010.259 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tính theo lãi suất 9%/năm tương đương 0.75%/tháng (căn cứ điểm 3.4 Điều 3 của Hợp đồng mua bán hàng hóa) là 80.781.104 đồng. Thời điểm tính lãi suất chậm trả tính từ ngày 13/10/2023 (căn cứ Biên bản đối chiếu và thỏa thuận bù trừ công nợ ngày 14/7/2023).
Nay, Công ty Cổ phần S Nhà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty Cổ phần Đ thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ cho Cổ phần siêu thị vật liệu xây dựng Thế Giới Nhà, bao gồm: Nợ gốc là: 937.010.259 đồng và tiền lãi trả chậm thanh toán tính theo lãi suất 9%/năm (tương đương 0.75%/tháng) tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 80.781.104 đồng được thể hiện cụ thể trong bảng tính lãi trả chậm thanh toán đính kèm. Tổng số tiền gốc và tiền lãi trả chậm thanh toán tạm tính đến ngày 10/9/2024 là: 1.017.791.363 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng). Lãi trả chậm thanh toán sẽ tiếp tục tính từ ngày 11/9/2024 cho đến khi Công ty Đ thanh toán xong công nợ.
Bị đơn - Công ty Cổ phần Đ vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án án nhân dân thành phố T cần rút kinh nghiệm.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán cho Cổ phần siêu thị vật liệu xây dựng Thế Giới Nhà số tiền 1.017.791.363 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 937.010.259 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 80.781.104 đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi sẽ tiếp tục tính cho đến khi Công ty Cổ phần Đ thi hành án xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Quan hệ tranh chấp giữa Công ty Cổ phần S và Công ty Cổ phần Đ là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Theo Hợp đồng kinh tế, các bên thỏa thuận thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án có thẩm quyền tại nơi bên bán có trụ sở ( địa chỉ trụ sở của Công ty Cổ phần S). Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần Đ, Mã số doanh nghiệp 0309130759 đăng ký lần đầu ngày 01/3/2010; Đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 22/9/2018 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H thể hiện: Công ty Cổ phần Đ, địa chỉ trụ sở chính: Số G đường N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại thời điểm Văn phòng T thực hiện giao Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập đương sự, ghi nhận tại địa chỉ số G đường N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có treo biển hiệu hoạt động, không có nhân viên làm việc.
Ngày 15/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có Phiếu yêu cầu xác minh gửi Công an P, quận P về thông tin người đại diện theo pháp luật của là ông Nguyễn Duy H1, địa chỉ thường trú: Số G đường N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (theo địa chỉ thường trú trên Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp). Kết quả xác minh thể hiện: Đ/s Nguyễn Duy H1, SN 1978 có đăng ký thường trú tại số G đường N, Phường G, quận P. Hiện thực tế cư trú tại địa chỉ nêu trên. Công ty cổ phần Đ có treo biển hiệu nhưng không quan sát được hoạt động của Công ty.
Do không thể tống đạt trực tiếp được nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Công ty Cổ phần Đ và tại địa chỉ nơi cư trú của người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Duy H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tất cả các lần được triệu tập nêu trên, bị đơn Công ty Cổ phần Đ đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo pháp luật của Công ty tiếp tục vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn Công ty Cổ phần S Nhà có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Buộc Công ty Cổ phần Đ thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ cho Công ty Cổ phần S Nhà, bao gồm: Nợ gốc là: 937.010.259 đồng và tiền lãi trả chậm thanh toán tính theo lãi suất 9%/năm (tương đương 0.75%/tháng) tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 80.781.104 đồng. Tổng số tiền gốc và tiền lãi trả chậm thanh toán tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 1.017.791.363 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng). Lãi trả chậm thanh toán sẽ tiếp tục tính từ ngày 11/9/2024 cho đến khi Công ty Cổ phần Đ thanh toán xong công nợ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[3.1] Xét hiệu lực của hợp đồng:
Công ty Cổ phần S (Công ty S) hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần, Mã số doanh nghiệp C đăng ký lần đầu ngày 12/10/2017; Đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 16/01/2023 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp. Công ty Cổ phần Đ (Công ty Đ), hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần, Mã số doanh nghiệp C1 đăng ký lần đầu ngày 01/3/2010; Đăng ký thay đổi lần thứ 11, ngày 22/9/2018 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp. Hợp Đồng kinh tế số 825/2021/HĐKT/TGN và các Phụ lục về việc cung cấp bê tông thương phẩm phục vụ thi công dự án Nova World H - The Tropicana/The F tại xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo đó, Công ty Cổ phần S Nhà cung cấp bê tông thương phẩm phục vụ thi công công trình cho Công ty Đ. Như vậy, hợp đồng được ký là phù hợp với chức năng ngành nghề đăng ký kinh doanh của cả hai bên, nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật làm căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[3.2] Xét quá trình các bên thực hiện hợp đồng:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ cung cấp bê tông thương phẩm theo các điều khoản được quy định trong hợp đồng hai bên đã ký kết. Ngày 29/5/2023, tại Công văn số 11/2023/CV-PC/CLG Công ty Đ đã xác nhận công nợ gốc của: Hợp đồng 1224/2020/HĐMB/CAL-TGN ngày 12/11/2020 kèm Phụ lục: Hợp đồng 1232/2020/HĐMB/CAL-TGN ngày 01/7/2020 kèm Phụ lục; Hợp đồng 825/2021/HĐKT/TGN ngày 15/8/2021 với tổng số tiền là 7.037.010.259 đồng (Bảy tỷ không trăm ba mươi bảy triệu không trăm mười nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).
Ngày 14/7/2023, giữa Công ty S và Công ty Đ đã cấn trừ công nợ của các Hợp đồng nêu trên với tổng số tiền là 6.000.000.000 đồng. Tại Biên bản đối chiếu và thỏa thuận bù trừ công nợ số 01/BBBTCN/CLG-TGN ngày 14/7/2023, Công ty Đ đã xác nhận công nợ còn lại là 1.037.010.259 đồng và cam kết thanh toán số tiền còn lại trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hai bên ký biên bản bù trừ công nợ. Công ty S đã thu hồi công nợ của 02 Hợp đồng năm 2020 (Hợp đồng số 1224/2020/HĐMB/CAL-TGN và Hợp đồng 1232/2020/HĐMB/CAL-TGN), công nợ còn lại là của Hợp đồng 825/2021/HĐKT/TGN ngày 15/8/2021. Số tiền nợ gốc còn lại mà Công ty Đ chưa thanh toán cho Công ty S là: 1.037.010.259 đồng (Một tỷ không trăm ba mươi bảy triệu không trăm mười nghìn hai trăm năm mươi chín đồng).
Ngày 02/02/2024, Công ty Đ thanh toán cho Công ty S Nhà số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Tính đến ngày 10/9/2024, Công ty Đ còn nợ Công ty S Nhà số tiền nợ gốc là: 937.010.259 đồng. Do đó, Công ty S yêu cầu tiếp tục thanh toán số tiền nợ gốc 937.010.259 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[3.3] Đối với yêu cầu buộc Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán cho Công ty Cổ phần S Nhà nhà tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Theo điểm 3.4 Điều 3 của Hợp đồng kinh tế thỏa thuận: “Nếu bên B thanh toán chậm trễ so với thời hạn quy định tại điều này, bên B phải chịu phạt bằng lãi suất vay ngắn hạn của Ngân hàng N tại thời điểm thanh toán thực tế, tính trên tổng số tiền chậm trả cho mỗi ngày trễ hạn”.
Tòa án đã thu thập lãi suất của 03 Ngân hàng N về lãi suất chậm trả, theo đó Công ty Thế giới nhà áp dụng mức lãi suất 9%/năm tương đương 0.75%/tháng trên số tiền nợ gốc là 937.010.259 đồng là có lợi cho bị đơn nên có căn cứ chấp nhận.
Thời điểm tính lãi suất chậm trả: Theo điểm c mục 2 Biên bản đối chiếu và thỏa thuận bù trừ công nợ ngày 14/7/2023: “Bên A (Công ty Đ) sẽ thanh toán cho Bên B (Công ty S) số tiền 1.037.010.259 đồng trong thời gian 90 ngày kể từ ngày 02 bên ký biên bản bù trừ công nợ”. Do đó, Công ty Thế Giới Nhà yêu cầu tính lãi kể từ ngày 13/10/2023 đến khi thanh toán xong là có căn cứ nên chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền mà Công ty Đ phải trả cho Công ty S Nhà tạm tính đến ngày 13/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 1.017.791.363 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 937.010.259 đồng và tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất 0.75%/tháng, tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 80.781.104 đồng. Lãi chậm thanh toán sẽ tiếp tục tính kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi Công ty Đ thanh toán xong công nợ.
Ghi nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của Công ty Cổ phần S Nhà được chấp nhận nên Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 71, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Nhà:
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Buộc Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán cho Công ty Cổ phần S Nhà số tiền 1.017.791.363 đồng (Một tỷ không trăm mười bảy triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 937.010.259 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 80.781.104 đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi sẽ tiếp tục tính cho đến khi Công ty Cổ phần Đ thi hành án xong.
Kể từ ngày 11/9/2024 nếu Công ty Cổ phần Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nêu trên, thì hàng tháng Công ty Cổ phần Đ còn phải chịu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo theo mức lãi suất là 9%/năm (tương đương với 0.75%/tháng).
Buộc Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí là 42.533.741 đồng (Bốn mươi hai triệu năm trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng).
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S Nhà số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.683.484 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm tám mươi bốn đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0001938 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Công ty Cổ phần S, Công ty Cổ phần Đ Các có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 4256/2024/KDTM-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 4256/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
