|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 425/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Quốc Bảo |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Văn Chánh; |
| Bà Thiều Thị Phi Loan. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 1735/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 448/2024/QĐHPT-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Huỳnh Thanh T, sinh năm 1987;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1987;
Cùng địa chỉ cư trú: Số A, khu phố D, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lưu Huỳnh Thanh T trình bày:
- Về quan hệ tình cảm: Bà Lưu Huỳnh Thanh T và ông Nguyễn Hoàng D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27/2013 ngày 02/5/2013. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Nay bà T xác định tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D.
- Về con chung: Bà T xác định có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/01/2014. Sau ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà T yêu cầu tự thỏa thuận với ông D nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T cho rằng trong quá trình chung sống với nhau không nợ ai chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Hoàng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt, không trình bày ý kiến và cung cấp tài liệu chứng cứ gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lưu Huỳnh Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/01/2014 cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về tài sản chung: không xem xét vì bà T xác định tự thỏa thuận; Về nợ chung và cấp dưỡng nuôi con: không xem xét vì bà T xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
Bà Lưu Huỳnh Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định bà T là nguyên đơn, ông D là bị đơn. Căn cứ Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Nguyên đơn bà Lưu Huỳnh Thanh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Hoàng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Lưu Huỳnh Thanh T và bị đơn ông Nguyễn Hoàng D theo quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27/2013 ngày 02/5/2013 của Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và Biên bản xác minh tại Công an phường H, thành phố B ngày 24/7/2024 thể hiện ông Nguyễn Hoàng D đang cư trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Huỳnh Thanh T và ông Nguyễn Hoàng D chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27/2013 ngày 02/5/2013. Đối chiếu quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định hôn nhân của bà T và ông D là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy: Sau khi kết hôn bà T và ông D chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông D thì Ủy ban nhân dân phường H cung cấp thể hiện về con chung, tài sản chung và nợ chung thì các đương sự không có đơn yêu cầu giải quyết, trong quá trình chung sống bà T và ông D có phát sinh mâu thuẫn hay không địa phương không nắm do không ai trình báo yêu cầu giải quyết. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông D theo quy định nhưng ông D không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông D đã bỏ mặc hôn nhân của mình và không muốn hàn gắn lại với bà T. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà T và ông D thật sự trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Lưu Huỳnh Thanh T đối với ông Nguyễn Hoàng D.
[3.2] Về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung:
Bà T xác định có 01 con chung với ông Nguyễn Hoàng D là cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/01/2014. Bà T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K.
Xét thấy, bà T hiện có công việc và thu nhập ổn định nên có đầy đủ điều kiện nuôi con và đảm bảo được sự phát triển ổn định, toàn diện của cháu K. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông D không trình bày nguyện vọng nuôi con, không có mặt tại phiên tòa cũng như không xuất trình các tài liệu chứng cứ để chứng minh khả năng và điều kiện nuôi con. Hội đồng xét xử thấy giao cháu K cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật và và phù hợp với nguyện vọng của cháu K.
Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung: Bà T khai tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Lưu Huỳnh Thanh T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Huỳnh Thanh T đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng D:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Huỳnh Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Hoàng D.
-
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 16/01/2014 cho bà T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
-
Tạm thời ông D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.
-
Ông D không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
-
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
-
- Về nợ chung: Bà T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
-
-
Về án phí: Bà Lưu Huỳnh Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004515 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bà Lưu Huỳnh Thanh T, ông Nguyễn Hoàng D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Bảo |
Bản án số 425/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 425/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Thanh T khởi kiện Nguyễn Hoàng D
