|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 425/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 - 4 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Dương;
- Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Như Ý, sinh năm: 1997 (Có mặt);
Nơi thường trú: Số B tổ G, khu phố M, phường C, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Tạm trú: Số 412/10/1 Tỉnh lộ 9, ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1995 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Số F Tỉnh lộ 7, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 27/12/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Bùi Như Ý trình bày:
Bà và ông Bùi Thanh T1 quen biết tìm hiểu nhau năm 2013, tự nguyện xây dựng gia đình, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C vào năm 2015. Sau khi xây dựng gia đình xong, vợ chồng bà chung sống tại nhà chồng, thời gian sống hạnh phúc rất ít, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra do ông T1 không lo làm ăn, vô tâm với vợ con, vợ chồng thường cãi vã, xô xát lẫn nhau, không có cùng quan điểm sống, vì muốn con có đầy đủ cha mẹ nên bà đã cố gắng khuyên nhủ ông T1 lo tu tỉnh làm ăn nhưng ông T1 không thay đổi. Từ năm 2018 bà cùng con chuyển về xã B, huyện C sinh sống, ông T1 vẫn ở với cha mẹ chồng, mỗi người tự lo cuộc sống của mình, ông T1 cũng không muốn hàn gắn, bà thấy cuộc sống hôn nhân không còn ý nghĩa, không ai quan tâm đến ai nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn.
Bà và ông T1 có 01 con chung tên Nguyễn Tường V, sinh ngày 06/10/2014, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung không có, nợ chung không có.
* Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 27/12/2023 và tại phiên tòa, bà Bùi Như Ý yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Thanh T, con chung có 01 cháu bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông T hiện đang cư trú tại địa chỉ số F Tỉnh lộ 7, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Đ a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về tố tụng:
Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (ông T trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn không đến Tòa án, do đó Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Bùi Như Ý và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 128, quyển số 01/2015, ngày 02/11/2015 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà Như Ý thì bà và ông T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, sống hạnh phúc chỉ một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do ông T không đóng góp chung cho kinh tế gia đình, vô tâm với vợ con, giữa hai bên thường xảy ra cãi vã, xô xát và đã sống ly thân từ năm 2018 khi bà cùng con chuyển về nhà mẹ ruột của bà ở xã B, huyện C sinh sống, thời gian xa nhau ông T cũng không quan tâm đến vợ con, không muốn hàn gắn, bà nhận thấy hai bên không còn sống chung đã lâu, tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Xét ông T không đến Tòa án theo giấy triệu tập để có ý kiến về mối quan hệ vợ chồng giữa ông và bà Như Ý, điều đó cho thấy ông T không còn muốn duy trì quan hệ vợ chồng cùng với bà Như Ý, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do bà Như Ý cung cấp, hiện bà Như Ý và ông T không còn chung sống cùng một địa chỉ, do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải xác minh về tình trạng hôn nhân của ông bà tại địa phương theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Nhận thấy tình
trạng quan hệ vợ chồng giữa bà Như Ý và ông T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Như Ý được ly hôn với ông T là có cơ sở.
- Về con chung:
Bà Như Ý và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Tường V, sinh ngày 06/10/2014, ông T không đến Tòa án để có ý kiến về các con chung, hiện cháu V đang sống cùng mẹ và đều có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ, để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu V cho bà Như Ý trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Như Ý không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của bà Như Ý, không trái pháp luật nên ghi nhận sự tự nguyện này. Trường hợp sau này bà Như Ý có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.
- Về tài sản chung:
Bà Như Ý xác định không có.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà Như Ý xác định không có.
- Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Như Ý phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Bùi Như Ý về việc cho ly hôn giữa bà Bùi Như Ý và ông Nguyễn Thanh T.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 128, quyển số 01/2015, ngày 02/11/2015 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Bà Như Ý và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Tường V, sinh ngày 06/10/2014.
Giao con chung cho bà Như Ý được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Như Ý về việc tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung:
Bà Như Ý xác định không có.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà Như Ý xác định không có.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Như Ý phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Như Ý đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2023/0018983 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà Như Ý đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
- Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 425/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 425/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
