|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 425/2024/DS-PT Ngày: 08/8/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- - Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm Ông Nguyễn Chí Dững
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên.
Ngày 08/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 462/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Anh Phạm Anh T1, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- - Người kháng cáo: Anh Phạm Anh T2 là bị đơn của vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, anh Nguyễn Minh T trình bày:
Vào ngày 01/5/2020 anh Nguyễn Minh T có hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với anh Phạm Anh T1, thửa đất 1233, diện tích 2.000m² (diện tích theo quyền sử dụng đất 1.700,1m²), tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, giá thuê một năm là 10.000.000 đồng, thời gian thuê 05 năm (từ ngày 01/5/2020 đến ngày 01/5/2025), hai bên thoả thuận anh T trả tiền thuê cho anh T1 02 năm đầu khi ký hợp đồng là 20.000.000 đồng, khi đến thời hạn thuê hết 02 năm đầu thì anh T trả tiền thuê 03 năm còn lại, mục đích anh T thuê để kinh doanh trồng cỏ chỉ N. Hai bên có làm hợp đồng thuê ngày 01/5/2020.
Ngày 01/5/2020 anh T trả tiền thuê 02 năm đầu cho anh T1 nhận 20.000.000 đồng, anh T1 giao đất cho anh T sử dụng.
Anh T san lắp cát trên phần đất thuê để trồng cỏ 2,5 ghe là 30.000.000đ.
Đến ngày 01/5/2023 anh T trả tiền thuê đất 03 năm còn lại cho anh T1 nhận 30.000.000đ. Tổng cộng anh Tâm g trả tiền thuê đất cho anh T1 05 năm là 50.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 30/11/2023 anh T làm cỏ xúc cát đổ đi nơi khác thì anh T1 không cho anh T nên phát sinh tranh chấp anh T1 không cho anh T sử dụng đất thuê trồng cỏ tiếp.
Trong thời gian này anh T đã mua cỏ giống về trồng gồm: 400m² cỏ nhung N, giá cỏ 18.000đ/m², thành tiền là 7.200.000đ và trên đất thuê anh T còn 150m² cỏ, giá 18.000đ/m², thành tiền là 2.700.000 đồng, tổng cộng là 9.900.000 đồng để trồng nhưng do anh T1 không cho sử dụng đất nên không trồng cỏ được, cỏ bị chết toàn bộ 550m². Trường hợp anh T1 cho sử dụng đất thuê trồng cỏ thì anh T thu hoạch cỏ bán được 02 đợt, mỗi đợt anh T lời là 12.000.000 đồng, hai đợt lời được 24.000.000 đồng.
Do đó, thời gian anh T thuê đất của anh T1 từ ngày 01/5/2020 đến 30/11/2023 (ngày hai bên xảy ra tranh chấp không sử dụng đất thuê) được 03 năm 07 tháng, còn lại thời gian chưa sử dụng đất thuê là 01 năm 05 tháng.
Qua thẩm định định giá anh T thống nhất trên đất có các cây trồng: bông giấy, lài... hệ thống tưới nước của anh T theo biên bản thẩm định, định giá.
Nay anh Nguyễn Minh T yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 01/5/2020 giữa anh Nguyễn Thành T3 và anh Phạm Anh T2.
Anh Nguyễn Minh T yêu cầu anh Phạm Anh T1 hoàn trả tiền và bồi thường các khoản sau:
- - Trả lại tiền thuê đất 01 năm chưa sử dụng đất thuê: 10.000.000 đồng.
- - Trả lại 01 ghe cát chưa hết thời gian thuê: 12.000.000 đồng.
- - Tại phiên toà, anh T không yêu cầu bồi thường lợi nhuận một đợt cỏ trồng (bị chết khi tranh chấp): mỗi đợt trồng cỏ thu nhập lợi nhuận là 12.000.000₫ x 02 đợt = 24.000.000 đồng.
- - Tại phiên toà, anh T yêu cầu anh T1 bồi thường gồm: 400m² cỏ, giá 18.000đ/m², thành tiền là 7.200.000đ và trên đất thuê anh T còn 150m², giá 18.000đ/m², thành tiền là 2.700.000đ, tổng cộng là 9.900.000 đồng.
Tổng cộng: 31.900.000đ.
Anh Nguyễn Minh T di dời toàn bộ tài sản gồm: các cây trồng: bông giấy, lài... hệ thống tưới nước giao trả lại cho anh T1 diện tích đất thuê 1.700,1m² theo biên bản xem xét thẩm định và định giá, sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
Ngoài ra, anh T không còn ý kiến gì khác và cũng không yêu cầu ai khác liên đới cùng tham gia tố tụng trong vụ kiện.
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Anh T1 trình bày:
Vào ngày 01/5/2020 anh Phạm Anh T2 có hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với anh Nguyễn Minh T, thửa đất 1233, diện tích 2.000m2 (diện tích theo quyền sử dụng đất 1.700,1m²), tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, giá thuê một năm là 10.000.000đ nhưng anh T phải san lắp cát phần đất thuê, sau khi hết hạn hợp đồng thuê thì phần cát san lắp thuộc quyền sở hữu của anh T2. Thời gian thuê 05 năm (từ ngày 01/5/2020 đến ngày 01/5/2025) anh T trả tiền thuê cho anh T2 02 năm đầu khi ký hợp đồng 20.000.000đ, khi đến thời hạn thuê hết 02 năm đầu thì anh T trả tiền thuê 03 năm còn lại, anh T thuê để kinh doanh trồng cỏ chỉ N. Hai bên có làm hợp đồng thuê ngày 01/5/2020.
Ngày 01/5/2020 anh T trả tiền thuê 02 năm đầu cho anh T2 nhận 20.000.000đ, anh T2 giao đất cho anh T sử dụng.
Anh T san lắp cát phần đất thuê để trồng cỏ là 1,5 ghe là 180m³.
Đến ngày 01/5/2023 anh T trả tiền thuê đất 03 năm còn lại cho anh T2 là 30.000.000đ. Tổng cộng anh T2 nhận tiền thuê đất anh T trả 05 năm là 50.000.000 đồng.
Trong thời gian thuê đất anh T nhiều lần đào cát đem về đổ trên đất anh T, anh T2 nhiều lần yêu cầu ngưng nhưng anh T vẫn tiếp tục đào cát trên đất thuê.
Đến ngày 30/11/2023 thì hai bên xảy ra tranh chấp và ngưng hợp đồng cho đến nay, hiện nay đất anh T2 quản lý sử dụng.
Thời gian anh T thuê đất của anh T2 từ ngày 01/5/2020 đến 30/11/2023 (ngày hai bên xảy ra tranh chấp không sử dụng đất thuê) được 03 năm 07 tháng, còn lại thời gian chưa sử dụng đất thuê là 01 năm 05 tháng.
Qua thẩm định định giá anh T2 thống nhất, trên đất có các cây trồng: bông giấy, lài... hệ thống tưới nước của anh T theo biên bản thẩm định, định giá.
Nay anh Phạm A T2 không đồng ý theo yêu cầu của anh T.
Anh Phạm Anh T2 yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất ngày 01/5/2020 giữa anh T và anh T2 đến hết ngày 01/05/2025 chấm dứt hợp đồng (thời gian tranh chấp hai bên từ ngày 01/12/2023 đến nay không trừ vào thời gian hợp đồng thuê đất trên).
Đến ngày 02/5/2025 anh T di dời tài sản và các cây trồng: bông giấy, lài... hệ thống tưới nước và làm sạch cỏ, san lắp bằng phẳng phần đất thuê (đối với phần cát san lắp trên đất thuê anh T không được di dời vì thuộc quyền sử dụng của anh T2) trên đất giao trả lại diện tích đất thuê 1.700,1m² cho anh T2 theo biên bản xem xét thẩm định và định giá, sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.
Ngoài ra, anh T2 không còn ý kiến gì khác và cũng không yêu cầu ai khác liên đới cùng tham gia tố tụng trong vụ kiện.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số: 31/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:
- Chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 01/5/2020 giữa anh Nguyễn Minh T với anh Phạm Anh T2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh T.
- Anh Nguyễn Minh T có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản của anh T gồm: các cây trồng, hê thống nước tưới tiêu... trên phần đất thuê để trả lại phần đất thuê thuộc thửa đất 1233, diện tích 1.700,1m², tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại ấp K, xã T, thành phố S cho anh Phạm A Toàn quản lý, sử dụng và anh T2 được quyền sử dụng phần cát san lắp của anh T trên phần đất thuê .(theo biên bản xem xét, thẩm định, định giá ngày 26/3/2024 và sơ đồ đo đạc ngày 10/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).
- Anh Phạm Anh T1 hoàn trả lại cho anh Nguyễn Minh T các khoản gồm:
- + Số tiền một năm thuê đất là 10.000.000 đồng;
- + Số tiền bơm cát là 12.000.000 đồng;
- + Tiền cỏ giống: 7.200.000 đồng
- Tổng cộng: 29.200.000 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá: tổng cộng: 4.711.570 đồng, anh T đã tạm nộp và chi xong.
Anh Nguyễn Minh T chịu một phần tư chi phí thẩm định, định giá là 1.177.893 đồng (đã chi xong)
Anh Phạm Anh T2 chịu ba phần tư chi phí thẩm định, định giá là 3.533.677 đồng. Anh T2 có nghĩa vụ trả lại cho anh T số tiền chi phí thẩm định, định giá là 3.533.677 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Minh T nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 1.398.000 đồng anh T đã nộp theo biên lai số 0004001 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ, anh T được nhận số tiền tạm ứng án phí còn lại là 1.098..000 đồng.
Anh Phạm Anh T2 nộp 1.460.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
- Ngày 27/5/2024, anh Phạm Anh T2 kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất ngày 01/5/2020 giữa anh T2 với anh T, đến hết thời gian thuê đất theo thỏa thuận anh T phải di dời tài sản và các cây trồng trên đất giao trả lại diện tích đất thuê 1.700,1m² cho anh T2 quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- + Anh Phạm Anh T2 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của anh T2 là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T2 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của anh Phạm Anh T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 01/5/2020, giữa anh Nguyễn Minh T với anh Phạm A T1 có giao kết hợp đồng dân sự thuê quyền sử dụng đất, theo đó anh T cho anh T1 thuê quyền sử dụng đối với toàn bộ thửa đất 1233 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.700,1m², tọa lạc tại ấp K, xã T, thành phố S (do anh T1 đứng tên quyền sử dụng), cùng với các nội dung thỏa thuận như: mục đích sử dụng đất thuê của anh T1 là để trồng cỏ; thời gian thuê 05 năm (từ ngày 01/5/2020 đến ngày 01/5/2025); giá thuê là 10.000.000đ/năm; anh T phải đã trả tiền thuê 02 năm đầu là 20.000.000đ cho anh T1, sau khi hết 02 năm thì anh T phải trả tiếp số tiền thuê đất 03 năm còn lại.
Sau khi giao kết hợp đồng thì hai bên cũng đã thực hiện đúng các nội dung thỏa thuận của hợp đồng, theo đó phía anh T đã trả cho anh T1 số tiền thuê đất của 02 năm đầu là 20.000.000đ và phía anh T1 cũng đã giao đất cho anh T sử dụng; anh T nhận đất và sử dụng đúng mục đích theo thỏa thuận; đến hạn kết thúc 02 năm thì phía anh T cũng đã trả tiếp số tiền thuê của 03 còn lại theo hợp đồng là 30.000.000đ và tiếp tục sử dụng đất thuê đúng mục đích đã thỏa thuận.
Đến ngày 30/11/2023 anh T và anh T1 phát sinh tranh chấp, nguyên nhân là do phía anh T1 không đồng ý việc anh T lấy cát trên phần đất thuê đem đi nơi khác và kể từ ngày 30/11/2023 đến nay anh T1 không cho anh T tiếp tục sử dụng phần đất thuê, vì vậy, anh T tranh chấp yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê đất với anh T1 và yêu cầu anh T1 phải hoàn trả lại tiền thuê đất 01 năm chưa sử dụng đất thuê là 10.000.000đ, tiền 01 ghe cát là 12.000.000đ và tiền thiệt hại cỏ giống 9.900.000đ, tổng cộng là 31.900.000đ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Anh T và anh T1 đều thừa nhận khi thỏa thuận cũng như trong hợp đồng hai bên không có thoả thuận anh T san lắp cát để tạo mặt bằng trồng cỏ thì trong thời gian thực hiện hợp đồng cũng như sau khi kết thúc hợp đồng thì phần cát san lắp đó sẽ thuộc quyền sở hữu của ai. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định số lượng cát mà phía anh T đã san lấp trên đất trong quá trình thực hiện hợp đồng là thuộc quyền sở hữu của anh T và việc anh T đem số lượng cát đã san lấp đó đi nơi khác là không vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng với anh T1, là phù hợp. Đồng thời, trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng thuê đất, phía anh T cũng không có hành vi nào là vi phạm hợp đồng với phía anh T1, nên việc phía anh T1 đơn phương ngăn cản không cho anh T tiếp tục trồng cỏ, tiếp tục sử dụng phần đất thuê là vi phạm hợp đồng đối với anh T, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của anh T về việc chấm dứt hợp đồng với anh T1 đồng thời buộc anh T1 phải bồi thường thiệt hại đối với số cỏ anh T mua về không trồng được dẫn đến bị chết, số lượng cát anh T đã san lấp còn trên đất và số tiền thuê đất theo thời gian còn lại của hợp đồng mà anh T1 đã nhận, là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015.
Vì vậy, việc anh T1 kháng cáo yêu cầu tiếp tục hợp đồng thuê đất với anh T là không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh T về số lượng cỏ 150m² trên đất thuê, thành tiền 2.700.000 đồng không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận, thì anh T không có kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T1 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên anh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 428, 478 và 479 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Anh T2.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2024/DS-ST ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Chấm dứt hợp đồng thuê đất ngày 01/5/2020 giữa anh Nguyễn Minh T với anh Phạm Anh T2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh T.
Anh Nguyễn Minh T có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản của anh T gồm: các cây trồng, hê thống nước tưới tiêu... trên phần đất thuê để trả lại phần đất thuê thuộc thửa đất 1233 tờ bản đồ số 25, diện tích 1.700,1m², đất tọa lạc tại ấp K, xã T, thành phố S cho anh Phạm A Toàn quản lý, sử dụng và anh T2 được quyền sử dụng phần cát san lắp của anh T trên phần đất thuê (theo biên bản xem xét, thẩm định, định giá ngày 26/3/2024 và sơ đồ đo đạc ngày 10/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).
Anh Phạm Anh T2 phải hoàn trả lại cho anh Nguyễn Minh T các khoản gồm:
- + Số tiền một năm thuê đất là 10.000.000 đồng,
- + Số tiền bơm cát là 12.000.000 đồng,
- + Tiền cỏ giống: 7.200.000 đồng;
- Tổng cộng: 29.200.000 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá: tổng cộng là 4.711.570 đồng, anh Nguyễn Minh T đã tạm nộp và chi xong.
- + Anh Nguyễn Minh T phải chịu ¼ chi phí thẩm định, định giá là 1.177.893 đồng (đã chi xong).
- + Anh Phạm Anh T2 chịu ¾ chi phí thẩm định, định giá là 3.533.677đ. Anh T2 có nghĩa vụ trả lại cho anh T số tiền chi phí thẩm định, định giá là 3.533.677 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Anh Nguyễn Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 1.398.000 đồng anh T đã nộp theo biên lai số 0004001 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp. Sau khi khấu trừ, anh T được nhận số tiền tạm ứng án phí còn lại là 1.098.000 đồng.
- + Anh Phạm Anh T2 phải nộp 1.460.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Phạm Anh T2 phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0004212 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. (đã nộp xong)
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
Bản án số 425/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 425/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Anh Phạm Anh T1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
