|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 425/2024/DS-PT
Ngày: 30-8-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Cường;
Ông Hà Chí Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 309/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 387/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lại Thị N, sinh năm 1968, nơi cư trú: Tổ A, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh – Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1976, nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, theo văn bản ủy quyền ngày 03/7/2023. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1987, nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn C, sinh năm 1965, nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Tòa án không triệu tập).
Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị G
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Do là chổ người thân trong gia đình nên trong năm 2022, bà N có cho chị G vay tiền để chị G bổ sung vốn kinh doanh, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất, vào ngày 09/8/2022, bà N cho chị G vay số tiền 200.000.000 đồng, nguồn tiền cho vay do bà N vay tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T, sau khi nhận tiền vay từ Ngân hàng, bà N giao cho chị G số tiền 200.000.000 đồng tại nhà chị G. Do nguồn tiền cho chị G vay từ việc vay vốn tại ngân hàng nên các bên có thỏa thuận bằng lời nói, chị Giàu c nghĩa vụ đóng tiền lãi của khoản vay tại Ngân hàng. Trên thực tế, sau khi vay tiền, chị Giàu c đóng tiền lãi được 03 tháng vào ngày 10/11/2022 với số tiền 5.416.438 đồng, các kỳ đóng tiền lãi còn lại do chị G không đóng nên bà N phải tự đóng giúp chị G.
- Lần thứ hai: Sau khoản vay lần thứ nhất 01 tháng, vào ngày 12/9/2022, bà N tiếp tục cho chị G vay số tiền 350.000.000 đồng. Nguồn gốc số tiền cho vay do bà N vay tiền tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T, bà N giao số tiền 350.000.000 đồng cho chị G tại nhà của chị G.
Vì là người thân trong gia đình nên khi cho vay tiền hai bên không làm giấy biên nhận tiền vay, khi giao tiền cũng không có ai chứng kiến sự việc. Kể từ ngày vay tiền cho đến nay, chị G chỉ trả lãi cho bà N được 03 tháng vào ngày 10/11/2022 số tiền 5.416.438 đồng đối với số tiền vay 200.000.000 đồng, còn lại tiền gốc và tiền lãi còn lại của các khoản tiền vay chị G chưa thực hiện nên nay bà N khởi kiện yêu cầu chị G hoàn trả số tiền nợ vay gốc 550.000.000 đồng và yêu cầu tính tiền lãi của số tiền 550.000.000 đồng tính từ ngày 17/7/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án với lãi suất 0.83%/tháng. Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện là nội dung cuộc nói chuyện giữa bà N và chị G được ghi âm lại vào ngày 29/01/2023, nội dung ghi âm được lưu trên điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, số máy MT6H2LL/A, số sê ri: F2NXH34CKPHF.
Bà N chỉ yêu cầu chị G hoàn trả số tiền còn nợ và không có yêu cầu ai khác cùng chị Giàu c nghĩa vụ hoàn trả số tiền nợ vay trên. Ngoài ra, bà N không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, chị Nguyễn Thị G trình bày:
Chị xác định, chị không yêu cầu bà N vay Ngân hàng dùm và chị cũng không vay tiền của bà N số tiền 550.000.000 đồng như bà N trình bày. Chị thừa nhận có lần chị đóng tiền lãi giúp cho bà N tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh T, nguồn tiền đóng lãi do bà N đưa cho chị đóng. Do không vay tiền bà N nên chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, không đồng ý trả số tiền gốc 550.0000.000 đồng và tiền lãi. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N có yêu cầu trưng cầu giám định giọng nói trong file ghi âm ngày 29/01/2023 vì cho rằng đó là giọng nói của chị. Tuy nhiên, do cho rằng không có liên quan đến vụ án nên chị từ chối việc cung cấp giọng nói để phục vụ trưng cầu giám định. Ngoài ra, chị không có ý kiến nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trần Văn C trình bày:
Đối với vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản do vợ ông là bà Lại Thị N tranh chấp với chị Nguyễn Thị G thì ông không có ý kiến, ông không có tranh chấp với bà N về số tiền bà N cho chị G vay. Ngoài ra, ông không có ý kiến nào khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ Luật dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị N về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” với chị Nguyễn Thị G. Buộc chị Nguyễn Thị Giàu c1 nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lại Thị N số tiền 600.671.500 đồng (sáu trăm triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng), trong đó gồm 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc và 50.671.500 đồng (năm mươi triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng) tiền lãi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa nộp trả số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về chi phí trưng cầu giám định: Chị Nguyễn Thị Giàu c1 nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lại Thị N số tiền 5.982.000 đồng (năm triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng).
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 28.027.000 đồng (hai mươi tám triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lại Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lại Thị N số tiền 15.348.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004530 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Nội dung kháng cáo: Ngày 05 tháng 7 năm 2024 chị Nguyễn Thị Giàu c1 đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh sửa bản án sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa người đại diện của Chị Nguyễn Thị G giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
+ Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, nguyên đơn cung cấp các file ghi âm cuộc nói chuyện giữa nguyên đơn với chị G. Nhưng chị G không hợp tác, cung cấp giọng nói của mình để giám định làm rõ nội dung vụ án. Tại Kết luận giám định số 1911/KL-KTHS ngày 26-4-2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 đã kế luận “không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong file âm thanh mẫu cần giám định và ...” Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Chị Nguyễn Thị G kháng cáo, nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới cho yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Chị Nguyễn Thị G. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xét xử sơ thẩm ngày 20-6-2024; ngày 05 tháng 7 năm 2024 chị Nguyễn Thị Giàu c1 đơn kháng cáo; Có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N cung cấp chứng cứ là file ghi âm ngày 29/01/2023 thể hiện:
- Từ phút thứ 46:09 đến 46:15 có nội dung
“...Năm: Đống tài sản của tao, tao đưa cho mày mần ăn, giờ ý là đưa cái nào mày cũng không.
T: Gì ba mượn của mẹ con trong ngân hàng là 500 rưỡi triệu, con là 200 triệu với tiền vàng dì ba thế 22 triệu dì ba có nhận nợ rồi.
Giàu: Đã tao nói mày với mẹ mày là hồi đó hai vợ chồng tao mượn”.
Bà N cho rằng các nội dung có trong file ghi âm ngày 29/01/2023 là lời thừa nhận nợ của chị G và nội dung kết luận số 1911/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 đã kết luận “không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong file âm thanh mẫu cần giám định và không đủ điều kiện kết luận tiếng nói của Nguyễn Thị G do không có mẫu tiếng nói so sánh”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, chị G đã được nghe và được giải thích quyền và nghĩa vụ chứng minh cho trình bày của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng chị G đã từ chối quyền và từ chối cung cấp giọng nói để phục vụ cho việc trưng cầu giám định. Tại bút lục số 213 ngày 24.4.2023 chị G đã nghe và thừa nhận có 03 file ghi âm, trong đó chị G còn thừa nhận xưng hô trong các file ghi âm là dì ba; mặt khác tại bút lục số 344 (Bản dịch nội dung) có thể hiện đoạn “...Chị kêu nó về đi, hứa em trả cho chị ba trăm rưởi, nó trả ba trăm rưởi, được thì ấy, là tiền của chị với con T đồ luôn đó, là giờ hai đứa mượn thì hai đứa chịu..”. Ngoài ra còn có đoạn trong file ghi âm số 1 do chị T cung cấp thể hiện chị G nói “Không phải mượn mẹ con 600 triệu mà đã trả lại 50 triệu...”; tại file ghi âm số 2 do chị H1 cung cấp thể hiện nội dung“Chị H1 nói mẹ Năm vay ngân hàng về cho tôi vay 300 triệu, còn 400 triệu thị mẹ Năm cho dì G vay lại nhưng dì G đã trả lại mẹ 50 triệu, còn nợ 350 triệu...”, chị G cũng thừa nhận file ghi âm của chị H1 tại biên bản đối chất ngày 24.4.2023, nhưng không có nội dung nào thể hiện sự phản ứng của chị G về các số tiền mà chị T, chị H1, bà N trình bày. Do đó xem như chị G từ chối quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do bà N cung cấp, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản với chị G và tính lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là có căn cứ pháp luật.
Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị G; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của chị Nguyễn Thị G không được chấp nhận, nên phải chịu 300.000.0 đồng án phí phúc thẩm theo quy định Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị G
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh
2. Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ Luật dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị N về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” với chị Nguyễn Thị G. Buộc chị Nguyễn Thị Giàu c1 nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lại Thị N số tiền 600.671.500 đồng (sáu trăm triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng), trong đó gồm 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) tiền gốc và 50.671.500 đồng (năm mươi triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm đồng) tiền lãi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa nộp trả số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về chi phí trưng cầu giám định: Chị Nguyễn Thị Giàu c1 nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lại Thị N số tiền 5.982.000 đồng (năm triệu chín trăm tám mươi hai nghìn đồng).
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 28.027.000 đồng (hai mươi tám triệu không trăm hai mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lại Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Lại Thị N số tiền 15.348.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004530 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005108 ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (Đã nộp xong).
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Diệp |
Bản án số 425/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 425/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
