Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

Bản án số: 424/2025/HNGĐ-ST

Ngày : 18/6/2025

“Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con”

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Hoà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phú Lộc;

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Không.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 169/2025/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 418/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 463/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Tuyết Hương, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp Ba Xưa, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông Đỗ Ngọc Anh, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số 31, tổ 01, ấp Hưng Thạnh, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trịnh Thị Tuyết Hương trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Tuyết Hương và ông Đỗ Ngọc Anh tự tìm hiểu, sau đó tự nguyện kết hôn vào năm 1997 tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau cuộc sống không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Do không thể tiếp tục chung sống nên ông bà đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy hiện tại tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Hương yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Đỗ Ngọc Anh.

Về con chung: Ông bà có 02 người con chung tên Đỗ Thị Mỹ Xuyên, sinh ngày 09/5/1998 và Đỗ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 11/8/2002. Cả 02 con đã thành niên và có khả năng tự lao động, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án: Bị đơn ông Đỗ Ngọc Anh được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Tuyết Hương.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Trịnh Thị Tuyết Hương vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Đỗ Ngọc Anh vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn khởi kiện cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Thấy rằng, bà Trịnh Thị Tuyết Hương yêu cầu được ly hôn đối với ông Đỗ Ngọc Anh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Thấy rằng, ông Đỗ Ngọc Anh có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện Châu Phú nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho đương sự. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.4] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Thấy rằng, bà Trịnh Thị Tuyết Hương vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Đỗ Ngọc Anh vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị Tuyết Hương và ông Đỗ Ngọc Anh là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn:

Thấy rằng, bà Trịnh Thị Tuyết Hương và ông Đỗ Ngọc Anh đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa bà Trịnh Thị Tuyết Hương và ông Đỗ Ngọc Anh là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Bà Trịnh Thị Tuyết Hương cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử Toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ mặc dù ông Đỗ Ngọc Anh đã được triệu tập hợp lệ nhưng ông đều vắng mặt, không có ý kiến phản đối. Điều này chứng tỏ ông Đỗ Ngọc Anh không còn yêu thương, không mong muốn tiếp tục đoàn tụ với bà Trịnh Thị Tuyết Hương.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, ông bà đã sống ly thân khoảng 06 năm nay là một thời gian rất dài, thể hiện ông bà không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị Tuyết Hương đối với ông Đỗ Ngọc Anh là phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Thấy rằng, trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Trịnh Thị Tuyết Hương và ông Đỗ Ngọc Anh có 02 (Hai) người con chung tên Đỗ Thị Mỹ Xuyên, sinh ngày 09/5/1998 và Đỗ Thị Mỹ Duyên, sinh ngày 11/8/2002. Hiện 02 (Hai) con đã thành niên và có khả năng lao động, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Thấy rằng, bà Trịnh Thị Tuyết Hương không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Đỗ Ngọc Anh không có ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà Trịnh Thị Tuyết Hương phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Đỗ Ngọc Anh không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Tuyết Hương đối với ông Đỗ Ngọc Anh. Bà Trịnh Thị Tuyết Hương và ông Đỗ Ngọc Anh ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung: Không xem xét.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

    Bà Trịnh Thị Tuyết Hương phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0009546 ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - CCTHADS H.Châu Phú;
  • - UBND xã Thạnh Mỹ Tây;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 424/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 424/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger