|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 424/2025/HS-PT Ngày 10 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1196/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Đoàn Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Văn C, sinh năm 1990; giới tính: Nam; nơi sinh: thành phố Cần Thơ; nơi thường trú: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Quản lý quán K; trình độ học vấn: 07/12; Con ông Đoàn Công T và bà Trần Thị L; hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Đào Thị Hồng M, sinh năm 1990 và có 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giam: Ngày 10/3/2023; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn C: Ông Phan Duy V và bà Phan Mỹ L1 là Luật sư của Công ty L5, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V; ông Phan Duy V có đơn xin vắng mặt; bà Phan Mỹ L1 có mặt.
- Bị hại:
- Cháu Bùi Thị Minh T1, sinh năm 2007; địa chỉ cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Thị Ngọc L3, sinh ngày 13/9/2008; nơi cư trú: Số C khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
- Cháu Châu Kiều O, sinh năm 2007; địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị L2, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm: 1981; địa chỉ cư trú: Số C, khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Út N, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
- Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Vụ thứ nhất: Cuối năm 2021, Phạm Hoàng E biết Đoàn Văn C kinh doanh quán K tại khu dân cư L thuộc ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ nên đến gặp C và tự giới thiệu bản thân quản lý khoảng 10 tiếp viên nữ đang phục vụ tại quán K thuộc xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ. Hoàng E và C thống nhất thỏa thuận tiền khách đến ăn uống, hát karaoke thì C thu và hưởng, còn tiền tiếp viên nữ phục vụ khách cho (gọi là tiền bo) thì Hoàng E lấy.
Hoàng E thuê căn nhà của anh Lê Xuân T2 tại khu dân cư L thuộc ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ gần quán K để cho các tiếp viên nữ đến xin việc và tiếp viên nữ mà Hoàng E mua về phục vụ tiếp khách tại quán ở. Để các tiếp viên nữ không bỏ trốn, Hoàng E thuê Lê Nhật H1 và T3, D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) về quản lý, canh giữ, thu tiền bo của những tiếp viên nữ mà Hoàng E bỏ tiền ra mua khi Hoàng E vắng và canh giữ không để họ bỏ trốn, Hoàng E trả công cho H1, T3 và D mỗi tháng là 7.000.000 đồng. Thấy khách đến quán K ngày càng nhiều, để tăng số lượng tiếp viên nữ phục vụ từ đó tăng thêm tiền thu lợi bất chính, Hoàng E sử dụng tài khoản Facebook tên “KenDy Hoàng” đăng tin tuyển tiếp viên nữ làm việc tại quán Karaoke, đưa ra mức lương theo thỏa thuận. Đến đầu năm 2022, Châu Kiều O (sinh ngày 23/12/2007) thấy đăng tin tuyển người nên liên hệ với Hoàng E và xin vào làm. Trong tháng 9/2022, Phạm Thị Huỳnh G (sinh ngày 24/02/2007, ngụ khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ) nhắn tin qua Facebook với Hoàng E và xin làm tiếp viên quán K, Hoàng E hỏi Giao đang ở đâu, có vay mượn tiền ai không, nếu có nợ thì Hoàng E sẽ cho mượn tiền trả nợ rồi về làm cho Hoàng E để trừ nợ, G đồng ý và hỏi mượn Hoàng E 30.000.000 đồng để trả nợ. Khoảng tháng 9 năm 2022, Hoàng E thuê xe ô tô đến thành phố C, tỉnh An Giang đưa 30.000.000 đồng cho Giao trả nợ, nhưng không biết G đưa tiền cho ai, khi trả nợ xong Giao lên xe cùng Hoàng E về, Giao và O được đưa về cùng ở tại căn nhà do Hoàng E thuê và làm tiếp viên cho quán K.
Đến tháng 11/2022, Bùi Thị Minh T1 (sinh ngày 11/11/2007 ngụ khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ) rủ Nguyễn Thị Ngọc L3 (sinh ngày 13/9/2008, ngụ Số C khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ) lên thành phố Hồ Chí Minh xin việc vào làm tiếp viên phục vụ hát Karaoke quán T8 địa chỉ Số C đường L, Phường A, quận G. Tại đây, T1 và L3 quen với Trà M1 (không rõ nhân thân), khi làm ở quán T8 thì T1, L3, Trà M1 có mượn tiền của người tên V1 (chưa rõ nhân thân), số tiền mỗi người là mượn là 6.000.000 đồng, tổng số tiền 03 người mượn là 18.000.000 đồng. Do có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước, khoảng đầu tháng 12/2022, Phạm Thị Huỳnh G sử dụng tài khoản Facebook tên “Ph Thị Huỳnh G1” nhắn tin với tài khoản Facebook của Bùi Thị Minh T1 rủ T1 và bạn của T1 về làm tiếp viên phục vụ tại quán K. T1 trả lời với G1 là có 02 người bạn làm cùng, T1 và 02 người bạn đang nợ tiền của người tên V1, mỗi người mượn 6.000.000 đồng. Sau đó, T1 và L3 làm tại quán T8 được khoảng 15 ngày, thì Trà M1 nói với T1 có quen với người bạn tên L1 (chưa rõ nhân thân) đang tuyển tiếp viên phục vụ quán Karaoke ở Bình Dương lương cao hơn quán Trang July, Trà M1 rủ T1 và L3 đi Bình Dương làm. T1 và L3 đồng ý thì Trà M1 liên hệ với L1, L1 thuê xe ô tô 04 chỗ đến quán T8, L1 đưa số tiền 18.000.000 đồng cho V1, rồi L1 nhận T1, L3 và Trà M1 đưa về Đồng Nai ở một ngày. Qua ngày hôm sau, L1 tiếp tục đưa T1, L3, Trà M1 về quán K ở thành phố T, tỉnh Bình Dương để làm nhưng do ở đây đã đủ tiếp viên nữ, L1 tiếp tục đưa T1, L3 và Trà M1 về quán K C1 có địa chỉ tại đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi đến quán K thì T1, L3 và Trà M1 mượn tiền của người đàn ông quản lý Karaoke Thiên Phú C1 (chưa rõ nhân thân) số tiền 18.000.000 đồng trả cho L1. Lúc này, Giao liên T4 nhắn tin cho T1 qua Facebook rủ T1 về Cần Thơ làm, do muốn về làm gần nhà, T1 mới rủ L3 và Trà M1 về làm ở Cần Thơ. Đến ngày 08/12/2022 thì L3 và Trà M1 đồng ý về Cần Thơ làm, nên T1 nhắn tin cho G1 biết, G1 nói với Hoàng E là có 03 người bạn của G1 đang làm ở Karaoke tại Bình Dương muốn về làm tiếp viên và 03 người bạn đang thiếu nợ 18.000.000 đồng, nếu đồng ý nhận người thì bỏ tiền ra nhận người về, Hoàng E đồng ý. Ngày 08/12/2022, Hoàng E thuê xe ô tô 07 chỗ biển số 65A - 130.93 của anh Hồ Bửu L4 và thuê anh Phan Trung T5 làm tài xế chở Hoàng E và G1 đến Karaoke Thiên Phú C. Sáng ngày 09/12/2022, Hoàng E và G1 đến quán K C1 tại đây Hoàng E đưa cho Giao số tiền 18.000.000 đồng, Hoàng E đưa tiền cho G1 và nói giao tiền thì phải nhận được người (nhận được T1, L3 và T), nếu không nhận được người thì không được giao tiền, thì Giao nhận tiền từ Hoàng E và xuống xe đưa 18.000.000 đồng cho người nam (chưa rõ nhân thân) ở quán K. Sau khi giao tiền xong, Hoàng E và Giao nhận được T1, L3, Trà M1 đưa lên xe ô tô chở về căn nhà thuê cạnh quán K. Sau khi về Hoàng E bắt L3, T1 ký vào tờ giấy do Hoàng E soạn sẵn buộc phải làm tiếp viên tiếp khách trong vòng 6 tháng để trừ nợ, nếu nghỉ trước 6 tháng phải bồi thường 30.000.000 đồng.
Hoàng E giao cho Lê Nhật H1, T3, D quản lý việc đi lại, ăn ở của T1 và L3, không để các tiếp viên này bỏ trốn. Hàng ngày H1 khóa cửa rào và cửa nhà thuê, quản lý ăn, ở tại chỗ, khi T1, L3 muốn đi ra ngoài thì phải được sự đồng ý của Hoàng E và có giám sát của H1, T3 hay D đi cùng. H1 thu điện thoại không cho các tiếp viên điện thoại liên lạc về nhà nhờ người nhà giải cứu, khi các tiếp viên nữ do làm việc liên tục, ăn uống thiếu thốn mệt mỏi không làm nổi thì H1 đe doạ, ép tiếp viên nữ phải tiếp khách. Ngoài ra, nếu tiếp viên nữ nào không chịu tiếp khách hoặc có ý định bỏ trốn thì Hoàng E và H1 đe dọa đánh, bán đi nơi khác làm gái mại dâm, trong đó có T1 và L3 là người dưới 16 tuổi.
Sau khi nhận T1, L3 về được khoảng 3 ngày, thì Phạm Thị Huỳnh G xin phép Hoàng E về quê nhưng sau đó đã bỏ trốn không trở lại. Đến ngày 16/12/2022, Phạm Hoàng E bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt, giữ và khởi tố về tố về tội Mua bán người và Mua bán người dưới 16 tuổi trong một vụ án khác. Sau khi Hoàng E bị bắt thì T3 và D bỏ đi khỏi địa phương, một số tiếp viên nữ bỏ đi, riêng T1 và L3 không dám bỏ trốn, vì sợ bị bắt lại bán làm gái bán dâm, nên tiếp tục ở lại căn nhà do Hoàng E thuê và trực tiếp do Cười quản lý, Lê Nhật H1 ở lại để điều tiếp viên nữ cho C, nhưng H1 không tiếp tục quản lý sinh hoạt, đi lại của các tiếp viên nữ như lúc trước khi Hoàng E chưa bị bắt, H1 chỉ được C nuôi cơm và cho tiền tiêu xài cá nhân không trả lương.
- Vụ thứ hai: Khoảng đầu tháng 01 năm 2023, Lê Thị Ngọc T6 (là vợ của Phạm Hoàng E) cùng Trần Văn P đến quán K, yêu cầu C giao lại các tiếp viên nữ của Hoàng E trước đây cho T6 và P quản lý, C không đồng ý nên P và C đã xảy ra xô xát, sau đó được can ngăn. Qua ngày hôm sau, T6 cùng P tiếp tục đến quán K xác định 09 tiếp viên nữ của Hoàng E gồm: Nguyễn Thị Ngọc L3, Bùi Thị Minh T1, Châu Kiều O, Trần Hoàng Mai T7 và 05 tiếp viên nữ khác là H2, M2, D1, O, Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Lúc này, C nói với P là những tiếp viên này khi qua làm cho C còn nợ tiền của C, nếu muốn nhận người đưa về quản lý, thì phải giao tiền cho C với số tiền những tiếp viên này đang nợ. P và C đồng ý và thoả thuận là C thống nhất chuyển giao (người) là các tiếp viên và phải nhận được tiền từ P, còn P đưa tiền ra phải nhận được (người) là tiếp viên từ Cười giao. Sau đó, P thuê căn nhà của ông Võ Bắc H3 ở ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ cho 09 tiếp viên này vào ở, làm phục vụ quán K để trả nợ cho P. Khoảng 3 ngày sau, C và P gặp nhau tại nhà thuê của ông Võ Bắc H3, tại đây Cười đọc số tiền mà từng tiếp viên nữ đã nợ tiền của C để các tiếp viên này xác nhận đúng số tiền đã mượn, P sẽ đưa tiền cho các tiếp viên nữ để trả cho C. Tổng số tiền C nhận được 110.000.000 đồng, trong đó số tiền mà P đưa cho Bùi Thị Minh T1 là 10.000.000 đồng, Nguyễn Thị Ngọc L3 là 2.000.000 đồng, Châu Kiều O là 42.000.000 đồng, Trần Hoàng Mai T7 là 18.000.000 đồng, số tiền còn lại 56.000.000 trả cho 05 tiếp viên nữ H2, M2, D1, O, Đ. Khi nhận tiếp viên nữ về, P thuê Lê Nhật H1 về làm công cho P, công việc làm theo sự chỉ đạo của P là khoá cửa hàng rào và cửa nhà thuê để nhốt các tiếp viên ở bên trong, ăn, ở tại chỗ và không được tự ý đi ra ngoài, canh không cho tiếp viên nữ bỏ trốn, thu giữ điện thoại không cho liên lạc về nhà để giải cứu, H1 còn sử dụng 01 (một) cây roi điện nhặt được để làm công cụ đe dọa các tiếp viên nữ, bắt buộc các nữ tiếp viên hàng ngày phải liên tục tiếp khách, khi nhận được tiền khách cho thì P và H1 quản lý hết để trừ nợ, trong đó có T1, L3 và O là người dưới 16 tuổi.
Đến ngày 07 tháng 3 năm 2023, Bùi Thị Minh T1, Nguyễn Thị Ngọc L3 làm tiếp viên phục vụ khách tại quán K nhưng không nhận được lương theo thỏa thuận mà còn bị đe dọa đánh, bán làm gái mại dâm, lợi dụng sự quản lý sơ hở của H1, T1 và L3 đã trốn ra khỏi căn nhà do P thuê và nhờ người bạn tên Trần Đan H4 đến đón và chở đến Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ để trình báo. Riêng đối với Châu Kiều O đến ngày Công an phát hiện, O làm tiếp viên phục vụ khách cũng không nhận được lương tháng nào.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ quyết định:
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 12 (Mười hai) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt 07 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 10/3/2023. Phạt bổ sung 50.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, bị cáo Đoàn Văn C kháng cáo kêu oan.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Văn C thay đổi kháng cáo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin được giảm án với lý do phạm tội lần đầu; thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục, bồi thường một phần thiệt hại; được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác và những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Bị cáo Đoàn Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm. Tại phiên tòa, bị cáo C xuất trình biên lai thu tiền chứng minh đã tác động gia đình nộp lại số tiền 55.200.000 đồng thu lợi bất chính, đây là tình tiết mới thể hiện thái độ ăn năn, hối cải của bị cáo; đồng thời, cha của bị hại Bùi Thị Minh T1 là ông Trần Văn S cũng có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo C.
Người bào chữa cho bị cáo Đoàn Văn C trình bày quan điểm:
Sau khi lắng nghe phân tích của Chủ tọa phiên tòa về các yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi, đặc biệt là hành vi khách quan của tội phạm, bị cáo C đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên thống nhất với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình biên lai thu tiền chứng minh đã tác động gia đình nộp lại số tiền 55.200.000 đồng thu lợi bất chính, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự theo Án lệ số 48/2021/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về phía đại diện hợp pháp của bị hại T1 là ông Trần Văn S có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bị cáo đã hỗ trợ một phần tiền cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 10 năm tù về tội Mua bán người dưới 16 tuổi.
Bị cáo Đoàn Văn C trình bày: Bị cáo thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư.
Bị cáo Đoàn Văn C nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận trước hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm án để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình, hòa nhập với cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Trần Văn P biết bị cáo Đoàn Văn C kinh doanh quán Karaoke, cần nhân viên nữ phục vụ nên đã chủ động liên hệ để cung cấp nhân viên nữ cho bị cáo C với mục đích nhận tiền bo từ khách cho các nhân viên, còn bị cáo C thì nhận tiền cho thuê dịch vụ karaoke. Tháng 11 năm 2022, Phạm Thị Huỳnh G giới thiệu Bùi Thị Minh T1 (sinh năm 2007), Nguyễn Thị Ngọc L3 (sinh năm 2008) và Trà M1 (hiện chưa xác định được nhân thân) cho bị cáo P để phục vụ cho quán karaoke của C như đã thỏa thuận.
Đầu năm 2023, Lê Thị Ngọc T6 là vợ của bị cáo Phạm Hoàng E cùng với bị cáo P tới quán Karaoke của bị cáo C để xác định 09 nữ tiếp viên của bị cáo E gồm: Nguyễn Thị Ngọc L3, Bùi Thị Minh T1, Châu Kiều O, Trần Hoàng Mai T7 và 05 tiếp viên nữ khác là H2, M2, D1, O, Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Tại đây, bị cáo C nói với bị cáo P rằng những nhân viên này khi qua làm tại quán karaoke còn nợ tiền của bị cáo C nên nếu bị cáo P muốn đưa những nhân viên này về quản lý thì phải trả tiền nợ cho bị cáo P. Sau đó, bị cáo P đã giao 110.000.000 đồng để các nhân viên giao lại cho bị cáo C. Thời điểm này, các nhân viên L3, T1, O đều chưa đủ 16 tuổi.
Quá trình điều tra, mặc dù các bị hại thừa nhận có vay tiền của bị cáo C, tuy nhiên cả bị cáo P và bị cáo C cùng có lời khai xác nhận sự việc nếu bị cáo P không giao tiền thì bị cáo C không giao các bị hại cho bị cáo P; cùng với đó, các bị hại còn khai nhận khi làm việc tại quán karaoke đã bị bị cáo C ép buộc làm tiếp viên phục vụ rót bia cho khách nhưng không được nhận tiền bo, không nhận được tiền lương và bị quản lý, giám sát chặt chẽ. Như vậy, bị cáo C đã thực hiện liên tiếp nhiều hành vi khách quan là tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để nhận tiền, cưỡng bức lao động trái pháp luật nên đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo C về tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn C:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng không phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại tội danh đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt với lý do hoàn cảnh khó khăn; phạm tội lần đầu; nhân thân tốt; nhận thức pháp luật hạn chế và đã nộp lại một phần hai tiền thu lợi bất chính.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo C là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, nhất là trong bối cảnh tội phạm mua bán người đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng hiện nay.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 và được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết định khung hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo C 12 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo xuất trình 02 Biên lai thu số tiền 55.200.000 đồng của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ và Đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của ông Trần Văn S, là đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Thị Minh T1. Đây là những tình tiết mới phát sinh tại giai đoạn xét xử phúc thẩm và đồng thời bị cáo còn thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; do đó, Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, xã hội và cũng là thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[3] Từ nhận định trên, xét thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và quan điểm bào chữa của Luật sư là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 151, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đã xử phạt bị cáo Đoàn Văn C 07 (bảy) năm tù; buộc bị cáo Đoàn Văn C phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 10 tháng 3 năm 2023. Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Văn C 50.000.000 đồng.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Văn C không phải chịu.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Mạnh Cường |
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 424/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (tội mua bán người dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 424/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Mua bán người dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ.
