Hệ thống pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn

Ông Chu Tuấn Anh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 424/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc ": Tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản."

Do bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 503/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị G năm 1964. Đăng ký HKTT: Số B P, phường P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Diên T năm 1989; Ông Hoàng Hữu P năm 1995; Ông Nguyễn Đại P1 năm 1992. Cùng địa chỉ: P, A đường T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Vũ Văn B-Công ty L- Đoàn luật sư thành phố H1( Xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Công ty cổ phần K(viết tắt Công ty K1

Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà S, A, phường M, quận N, Hà NộiĐại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H– Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Thành V N giấy uỷ quyền số 14/2024/GUQ-KSHOMES PLUS ngày 22/3/2024. (Bà H1có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần K(nay là: Công ty cổ phần K

Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà S, số A, phường M, quận N, Hà NộiĐại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T1– Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: Bà N1 giấy uỷ quyền số 25/UQ-SSG ngày 26/3/2024.

*Người kháng cáo: Công ty cổ phần K

Tại phiên tòa: Có mặt ông Đặng Thành V1. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Sau khi thỏa thuận với Công ty K2 Hợp đồng đặt mua 07 tài sản của Công ty K1với số tiền 19.500.000.000đ, cụ thể:

  1. Hợp đồng mã số CMMN00034002 ký ngày 15/9/2022, số tiền 3.000.000.000 đồng, đối tượng hợp đồng là căn hộ/lô đất có ký hiệu I-BT-22.06 tại dự án Sunshine Marina M chỉ: M, thành phố P, tỉnh Bình ThuậnLợi nhuận 8,7%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn thực hiện xong hợp đồng là 15/12/2022 (03 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.
  2. Hợp đồng mã số CMMN00035059 ký ngày 19/9/2022 và phụ lục hợp đồng 01, 02, 03, số tiền 5.000.000.000 đồng, đối tượng hợp đồng là căn hộ/lô đất có ký hiệu I-BT-23.04 tại dự án Sunshine Marina M chỉ: M, thành phố P, tỉnh Bình ThuậnLợi nhuận 8,7%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn bàn giao tài sản là thực hiện hợp đồng là 19/12/2022 (03 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.
  3. Hợp đồng mã số CSFH00052696 ký ngày 27/10/2022, số tiền 4.500.000.000 đồng, đối tượng hợp đồng là căn hộ/lô đất có ký hiệu T5-19 thuộc dự án Sunshine Marina M chỉ: M, thành phố P, tỉnh Bình ThuậnLợi nhuận 8,2%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn thực hiện hợp xong đồng là ngày 28/11/2022 (01 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.
  4. Hợp đồng mã số CSFH00055004 ký ngày 02/11/2022, số tiền 1.000.000.000 đồng, đối tượng hợp đồng là căn hộ/lô đất có ký hiệu T5-19, VP-05 thuộc dự án S H chỉ: Khu đô thị C, N, phường X, quận B, Hà NộiLợi nhuận 8,2%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn thực hiện xong hợp đồng là 02/12/2022 (01 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.
  5. Hợp đồng mã số CHDN00043806 ký ngày 06/10/2022 số tiền 4.000.000.000 đồng và phụ lục hợp đồng số 01, 02, 03, đối dặt mua là căn hộ/lô đất có ký hiệu MND-C9 thuộc dự án Sunshine Marina Metaland Đ chỉ: Thành phố Đà Nẵng. Lợi nhuận 10,1%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn thực hiện hợp đồng là ngày 06/04/2023 (06 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.
  6. Hợp đồng mã số CSFH00056382 ký ngày 05/11/2022 và các phụ lục hợp đồng số 01, 02, 04, 05, số tiền 1.000.000.000 đồng, đối tượng hợp đồng là căn hộ/lô đất có ký hiệu T5-27, VP-08a thuộc dự án S Finamce Hđịa chỉ: Lô đất TM13, khu đô thị N, phường X, quận B, Hà NộiLợi nhuận 9,3%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn thực hiện hợp đồng là ngày 04/02/2023 (03 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.
  7. Hợp đồng mã số CSFH00055637 ký ngày 03/11/2022 và các phụ lục hợp đồng số 01, 02, 04, 05, số tiền 1.000.000.000 đồng, đối tượng hợp đồng là căn hộ/lô đất có ký hiệu T5-27, VP-08a thuộc dự án S Finamce Hđịa chỉ: Lô đất TM13, khu đô thị N, phường X, quận B, Hà NộiLợi nhuận 9,2%/năm trên số tiền đã giao. Thời hạn thực hiện hợp đồng là 06/02/2023 (03 tháng) kể từ ngày ký hợp đồng đặt mua.

Để bảo đảm nghĩa vụ trả tiền của KSP, mỗi hợp đồng Công ty cổ phần K phát hành “Thư bảo lãnh” có nội dung: Tập đoàn T4bảo lãnh không hủy ngang cho nghĩa vụ của KSP phát sinh từ Hợp đồng đặt mua bất động sản giữa KSP và bà Đỗ Thị G1 vi bảo lãnh bao gồm: Các nghĩa vụ thanh toán của KSP (kể cả nghĩa vụ hoàn trả khoản bảo đảm, chi trả lợi nhuận, bồi hoàn và bồi thường thiệt hại) cho bà Đỗ Thị G2 sinh từ Hợp đồng đặt mua bất động sản.

Kể từ khi ký kết các hợp đồng cho đến nay (đã hết thời hạn thực hiện các hợp đồng đã ký kết), bà G3 giao đầy đủ tiền nhưng Công ty Klvẫn chưa giao tài sản, không trả tiền lợi ích phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng.

Công ty Kllấy lý do doanh nghiệp đang gặp khó khăn, ngày 01/02/2023, KSP ban hành văn bản số 10/2023 (áp dụng cho toàn bộ sản phẩm KSP), tại mục 3.2, KSP đơn phương đề xuất: “...chúng tôi xin đề xuất với Qnhà đầu tư hình thức Chuyển đổi khoản đầu tư sang quyền mua và sở hữu BĐS Sunshine...” (áp dụng cho tất cả các sản phẩm của KSP khi đáo hạn hợp đồng) bắt các nhà đầu tư (bao gồm cả bà G4 mua các căn hộ của họ.

Do Công ty K1thất hứa, bà G5 chấp nhận phương án mà KSP đưa ra, bà yêu cầu Công ty K3 trả lại bà toàn bộ số tiền bà đặt mua tài sản,tiền lợi ích phát sinh theo thỏa thuận của các hợp đồng các bên đã ký kết với số tiền đã giao là 19.500.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả (quá hạn) của số tiền chuyển ban đầu theo điểm b khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015 như sau:

  1. Hợp đồng thứ nhất số tiền 3.000.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 8,7%/năm x 03 tháng (15/9/2022 đến ngày 15/12/2022) là 65.071.233 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 3.000.000.000 đồng tính từ ngày 16/12/2022 đến ngày 29/5/2024 là: 3.000.000.000 đồng x 150% x 8,7% x 523 ngày chậm thanh toán/365 = 560.971.232 đồng.
  2. Hợp đồng thứ 2 số tiền 5.000.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 8,7%/năm x 03 tháng (từ ngày 19/9/2022 đến ngày 19/12/2022) là 108.452.055 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 5.000.000.000 đồng tính từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/5/2022 là: 5.000.000.000 đồng x 150% x 8,7% x 519 ngày chậm thanh toán/365 = 927.801.369 đồng.
  3. Hợp đồng thứ 3 số tiền 4.500.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 8,2%/năm x 01 tháng (từ 27/10/2022 đến ngày 27/11/2022) là 32.350.685 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 5.500.000.000 đồng tính từ ngày 28/11/2022 đến ngày 29/5/2022 là: 4.500.000.000 đồng x 150% x 8,2% x 541 ngày chậm thanh toán/365 = 820.393.150 đồng.
  4. Hợp đồng thứ 4 số tiền 1.000.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 8,2%/năm x 01 tháng (từ ngày 02/11/2022 đến ngày 02/12/2022) là 6.739.726 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 1.000.000.000 đồng tính từ ngày 03/12/2022 đến ngày 29/5/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 150% x 8,2% x 536 ngày chậm thanh toán/365 = 180.624.657 đồng.
  1. Hợp đồng thứ 5 số tiền 4.000.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 10,1%/năm x 06 tháng (từ ngày 06/10/2022 đến ngày 06/4/2023) là 201.446.575 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 4.000.000.000 đồng tính từ ngày 07/4/2023 đến ngày 29/5/2024 là: 4.000.000.000 đồng x 150% x 10,10% x 413 ngày chậm thanh toán/365 = 685.693.150 đồng.
  2. Hợp đồng thứ 6 số tiền 1.000.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 9,3%/năm x 03 tháng (03/11/2022 đến ngày 03/02/2023) là 23.441.096 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 1.000.000.000đ tính từ ngày 04/02/2023 đến ngày 29/5/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 150% x 9,3% x 476 ngày chậm thanh toán/365 = 181.923.287 đồng.
  3. Hợp đồng thứ nhất số tiền 1.000.000.000 đồng; khoản lợi nhuận theo thỏa thuân với lãi suất 9,3%/năm x 03 tháng (05/11/2022 đến ngày 05/02/2023) là 23.695.890 đồng; Lãi quá hạn của số tiền 1.000.000.000 đồng tính từ ngày 06/02/2023 đến ngày 29/5/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 150% x 9,3% x 474 ngày chậm thanh toán/365 = 181.158.904 đồng.Tổng cộng 23.499.763.009 đồng, trong đó số tiền gốc nguyên đơn đã thanh toán cho bị đơn để đặt mua là: 19.500.000.000 đồng, lợi ích phát sinh theo thời hạn chờ bàn giao tài sản của 07 Hợp đồng là 461.197.269 đồng, T2lãi của tổng số tiền đã chuyển cho Công ty K4 từ thời hạn bàn giao tài sản nhưng chưa bàn giao cho đến ngày xét xử là 3.538.565.749 đồng.

Nếu Công ty K5 trả được toàn bộ số tiền trên hoặc trả không đầy đủ bà G6 cầu buộc Công ty cổ phần K hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho phải trả thay cho Công ty K1cho bà G7 các thu bảo lãnh mà Công ty cổ phần K cam kết.

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Công ty K bà G8 thoả thuận ký Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản với các nội dung:

Mục đích: Bà Gchấp thuận sử dụng dịch vụ tư vấn, môi giới và thu xếp không độc quyền nhằm mục đích bà G8 thể đặt mua/thuê bất động sản của dự án theo quy định của pháp luật và thoả thuận của các bên tại hợp đồng.

Để bảo đảm cho việc thực hiện cam kết, nghĩa vụ của mình tại hợp đồng và chứng minh năng lực tài chính của bà G15 chủ đầu tư/ bên chuyển nhượng thông báo ký hợp đồng giao dịch bất động sản bà G9 ý đặt cọc cho KShome Plus một khoản tiền (Khoản tiền bảo đảm đặt mua).

Trường hợp kết thúc thời hạn mà bà G5 nhận được thông báo về ký kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư/ bên chuyển nhượng; hoặc đã nhận được thông báo nhưng không đồng ý giao kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư, hợp đồng dịch vụ đặt mua sẽ chấm dứt kể từ thời điểm kết thúc thời hạn. Khoản tiền bảo đảm đặt mua cùng toàn bộ lợi ích còn lại mà bà G10 hưởng sau khi trừ các khoản khấu trừ nếu có theo hợp đồng đặt mua sẽ được KSHome Plus hoàn lại cho bà G11 ngày hợp đồng đặt mua chấm dứt.

Thông tin hợp đồng, thời hạn đặt mua, khoản tiền bảo đảm đặt mua theo các HĐ đã ký kết như bà G12 bày là đúng.

Tuy nhiên đến nay nguyên đơn và Công ty vẫn chưa đạt được thoả thuận, chúng tôi nỗ lực mong muốn thương lượng và hoà giải để tìm được tiếng nói chung với nguyên đơn để bảo đảm quyền và lợi ích cho cả 2 bên.

Chúng tôi đề nghị Toà án tiếp tục tạo điều kiện cho các bên được thương lượng hoà giải và xử lý vụ việc trên tinh thần thiện chí, chia sẻ và hỗ trợ cho Công ty có thêm thời gian thu xếp các nguồn thu khác, để sớm có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP K bày:

Công ty CP K phát hành 07 Thư bảo lãnh gồm:

  1. Thư bảo lãnh ngày 15/9/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CMMN00034002 ký ngày 15/9/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13
  2. Thư bảo lãnh ngày 19/9/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CMMN00035059 ký ngày 19/9/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13
  3. Thư bảo lãnh ngày 27/10/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CSFH00052696 ký ngày 27/10/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13
  4. Thư bảo lãnh ngày 27/10/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CSFH00055004 ký ngày 02/11/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13
  5. Thư bảo lãnh ngày 02/11/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CHDN00043806 ký ngày 06/10/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13
  6. Thư bảo lãnh ngày 05/11/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CSFH00056382 ký ngày 05/11/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13
  7. Thư bảo lãnh ngày 03/11/2022, bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua tài sản số CSFH00055637 ký ngày 03/11/2022 giữa Công ty cổ phần K bà Đỗ Thị G13

Việc phát hành T3bảo lãnh sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa Công ty S từng thời điểm. Công ty S1 can thiệp, không chịu trách nhiệm đối với các nội dung thỏa thuận tại hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Công ty K bà Đỗ Thị G14 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được thực hiện và tuân thủ trên cơ sở quy định pháp luật Dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan và theo các điều khoản, nội dung của thư bảo lãnh đã được Công ty Sphát hành.

  1. Đối với nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng căn cứ Điều 342 Bộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh:

    “1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.

    2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại.”

Theo đó, Nguyên đơn có trách nhiệm thực hiện các quyền yêu cầu thanh toán với bên có nghĩa vụ là Công ty K2để đảm bảo trước tiên các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

  1. Đối với nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo 07 (bảy) thư bảo lãnh

Căn cứ nội dung các thư bảo lãnh đã phát hành, điều kiện để Công ty S2 hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bà Đỗ Thị G15 và chỉ khi Nguyên đơn đáp ứng các điều kiện, bao gồm:

  • (i) Có thông báo bằng văn bản được ký hợp lệ bởi Bên Nhận Bảo Lãnh;
  • (ii) Cung cấp bản gốc thư bảo lãnh (bản gốc) và Hợp đồng Hợp tác (bản sao) đã ký;
  • (iii) Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và hồ sơ được gửi hợp lệ và ký nhận bởi Tập đoàn T4trước hoặc vào ngày hết hạn thư Bảo Lãnh;

Tuy nhiên, theo hồ sơ sao chụp thì trong thời hạn 07 thư bảo lãnh còn hiệu lực, Công ty S1 nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh từ phía Nguyên đơn theo quy định tại 07 Thư bảo lãnh đã phát hành. Đến nay, 07 thư bảo lãnh hết hiệu lực chúng tôi không có nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo hợp đồng.

Với nội dung trên Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị G16 với Công ty cổ phần K2
  2. Buộc Công ty cổ phần K cho bà Đỗ Thị G17 số tiền 22.628.731.503 đồng. Trong đó số tiền bà G3 chuyển cho Công ty cổ phần K 19.500.000.000 đồng, tiền lợi ích phát sinh với lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng Công ty cổ phần K trả cho bà G18 461.197.260 đồng, tiền lãi chậm trả là 2.667.534.243 đồng.

Trường hợp Công ty cổ phần K trả được số tiền cho bà G19 trả không đủ số tiền cho bà G20 buộc Công ty cổ phần K (nay là: Công ty cổ phần K trả thay cho Công ty cổ phần K khi hoàn thành xong nghĩa vụ đối với bà G7 các thư bảo lãnh mà Công ty cổ phần K phát hành.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.

Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm, Công ty cổ phần K kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vắng mặt, Công ty cổ phần K vắn mặt và có đơn đề nghị giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  1. Về tố tụng:

Công ty cổ phần K kháng cáo bản án sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Công ty cổ phần K đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do vậy kháng cáo hợp lệ về hình thức.

Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký Tòa án: Các thẩm phán tham gia phiên tòa và thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
  • - Về thẩm quyền: Bản án sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Căn cứ Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án thành phố Hà Nội đã thụ lý phúc thẩm và giải quyết đúng thẩm quyền.
  • - Về thụ lý và thông báo thụ lý: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã Thông báo việc thụ lý cho đương sự và VKS theo đúng qui định tại điều 285 BLTTDS.
  • - Triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định tại điều 294 BLTTDS
  • - Trình tự diễn biến tại phiên tòa đúng theo các quy định tại điều 297, điều 298, điều 302, điều 303, điều 305, điều 306 của BLTTDS;
  1. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015.

  1. Về nội dung vụ án

Sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần K, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí theo quy định. Vì vậy, kháng cáo là hợp lệ về hình thức.
  2. Về nội dung:

Xét kháng cáo của Công ty cổ phần K với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn đề nghị Toà án buộc Công ty cổ phần K trách nhiệm liên đới hoàn trả các khoản tiền phát sinh (khoản đầu tư gốc + khoản lợi nhuận trong hạn + tiền lãi phát sinh trên khoản đầu tư gốc chưa trả theo mức lãi suất quy định tại điểm b khoản 5 Điều 466 BLDS) từ 07 HĐ đặt mua bất động sản gồm: HĐ số CMMN00034002 ký ngày 15/9/2022, HĐ số CMMN00035059 ký ngày 19/9/2022; HĐ số

CSFH00052696 ký ngày 27/10/2022; HĐ số CSFH00055004 ký ngày 02/11/2022; HĐ số CHDN00043806 ký ngày 06/10/2022; HĐ số CSFH00056382 ký ngày 05/11/2022 và HĐ số CSFH00055637 ký ngày 03/11/2022 với tổng số tiền là: 23.500.762.709 đồng.

Bị đơn thừa nhận hình thức và nội dung các hợp đồng ký kết và những nội dung thỏa thuận như nguyên đơn trình bày là đúng. Bị đơn không có ý kiến gì về các hợp đồng đã ký kết. Nay do tiến độ của các công trình bị chậm nên đề nghị nguyên đơn cho gia hạn thời hạn hợp đồng và chậm bàn giao tài sản cho nguyên đơn, nhưng nguyên đơn không chấp nhận.

Toà án cấp sơ thẩm xác định: Nội dung và hình thức của các thỏa thuận đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật Dân sự, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đương sự. Đối chiếu với nội dung của các Hợp đồng đặt mua bất động sản, Phụ lục HĐ cũng như quá trình thực hiện hợp đồng thấy: Công ty CP K vi phạm thoả thuận trong các Hợp đồng đã kí kết giữa hai bên, vì vậy bà G21 kiện yêu cầu chấm dứt các HĐ nêu trên đã ký với Công ty CK K2và Công ty CP K thanh toán cho bà G17 số tiền gốc của 07 Hợp đồng đã kí là 19.500.000.000 đồng, các lợi ích mà bà G10 hưởng theo thoả thuận các Hợp đồng và Phụ lục đã kí giữa hai bên là có căn cứ nên cần được chấp nhận là có căn cứ.

Về yêu cầu tính khoản tiền lãi suất đối với số tiền bà G3 chuyển giao cho Công ty K6 đơn yêu cầu tính lãi chậm trả là có căn cứ. Tuy nhiên, căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự thì mức lãi được tính là 10%/ năm nên bà G6 cầu tính lãi 150% là không có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm tính lại khoản tiền lãi suất.

  1. Hợp đồng thứ nhất số tiền gốc đặt mua: 3.000.000.000 đồng; lãi suất 8,7%/năm x 03 tháng (15/9/2022 đến ngày 15/12/2022) là 65.071.233 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 3.000.000.000 đồng x 10%/năm tính từ ngày 16/12/2022 đến ngày 29/5/2024 là: 3.000.000.000 đồng x 10% x 523 ngày chậm thanh toán/365 = 429.863.013 đồng.
  2. Hợp đồng thứ 2 số tiền gốc đặt mua 5.000.000.000 đồng; lãi suất 8,7%/năm x 03 tháng (từ ngày 19/9/2022 đến ngày 19/12/2022) là 108.452.055 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 5.000.000.000 đồng x 10%/năm tính từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/5/2022 là: 5.000.000.000 đồng x 10% x 519 ngày chậm thanh toán/365 = 710.958.904 đồng.
  3. Hợp đồng thứ 3 số tiền gốc đặt mua 4.500.000.000 đồng; lãi suất 8,2%/năm x 01 tháng (từ 27/10/2022 đến ngày 27/11/2022) là 32.350.685 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 4.500.000.000 đồng x 10%/năm tính từ ngày 28/11/2022 đến ngày 29/5/2022 là: 4.500.000.000 đồng x 10% x 541 ngày chậm thanh toán/365 = 666.986.301 đồng.
  4. Hợp đồng thứ 4 số tiền gốc đặt mua 1.000.000.000 đồng; lãi suất 8,2%/năm x 01 tháng (từ ngày 02/11/2022 đến ngày 02/12/2022) là 6.739.726 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 1.000.000.000 đồng x 10%/năm tính từ ngày 03/12/2022 đến ngày

29/5/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10% x 536 ngày chậm thanh toán/365 = 146.849.315 đồng.

  1. Hợp đồng thứ 5 số tiền gốc đặt mua 4.000.000.000 đồng; lãi suất 10,1%/năm x 06 tháng (từ ngày 06/10/2022 đến ngày 06/4/2023) là 201.446.575 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 4.000.000.000 đồng x 10%/năm tính từ ngày 07/4/2023 đến ngày 29/5/2024 là: 4.000.000.000 đồng x 10% x 413 ngày chậm thanh toán/365 = 452.602.739 đồng.
  2. Hợp đồng thứ 6 số tiền gốc đặt mua 1.000.000.000 đồng; lãi suất 9,3%/năm x 03 tháng (03/11/2022 đến ngày 03/02/2023) là 23.441.096 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 1.000.000.000₫ x 10%/năm tính từ ngày 04/02/2023 đến ngày 29/5/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10% x 476 ngày chậm thanh toán/365 = 130.410.958 đồng.
  3. Hợp đồng thứ nhất số tiền gốc đặt mua 1.000.000.000 đồng; lãi suất 9,3%/năm x 03 tháng (05/11/2022 đến ngày 05/02/2023) là 23.695.890 đồng; Lãi chậm trả của số tiền 1.000.000.000₫ x 10%/năm tính từ ngày 06/02/2023 đến ngày 29/5/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10% x 474 ngày chậm thanh toán/365 = 129.863.013 đồng.

Tổng số tiền lãi chậm trả là 3.538.565.749 đồng.

Việc Toà án cấp sơ thẩm tính lại khoản tiền lãi suất như trên là đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Tổng gốc và lãi buộc Công ty cổ phần K trả cho bà G18: 22.628.731.503 đồng.

Về nghĩa vụ bảo lãnh: Xem xét các thư bảo lãnh do Công ty CP K hành để bảo lãnh cho các nghĩa vụ của Công ty K7 với 07 hợp đồng ký kết giữa bà G22 Công ty K2 Gđề nghị Tòa án buộc Công ty CP K thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo các thư bảo lãnh nếu Công ty K5 thực hiện nghĩa vụ trả tiền hoặc trả không đầy đủ thì Công ty CP K trả nợ thay. Bà G3 giao nộp 07 thư bảo lãnh của Công ty CP K hành các ngày ngày 15/9/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CMMN00034002 ngày 15/9/2022; Thư bảo lãnh ngày 19/9/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CMMN00035059 ngày 19/09/2022; Thư bảo lãnh ngày 27/10/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00052696 ngày 27/10/2022; Thư bảo lãnh ngày 02/11/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CFSH00054004 ngày 02/11/2022; Thư bảo lãnh ngày 06/10/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CHDN00043806 ngày 06/10/2022; Thư bảo lãnh ngày 05/11/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00056382 ngày 05/11/2022; Thư bảo lãnh ngày 03/11/2022 bảo lãnh cho Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00055637 ngày 03/11/2022, thư bảo lãnh chung ngày 16/12/2022. Các thư bảo lãnh này có nội dung, hình thức tuân thủ đúng quy định của pháp luật, được ký bởi người có thẩm quyền của Công ty phát hành nên có giá trị áp dụng.

Đại diện Công ty T2 thừa nhận 07 thư bảo lãnh do bà G23 trình là đúng. Tuy nhiên, Công ty không nhận được thủ tục hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đầy đủ nên chưa có căn cứ để thực hiện bảo lãnh. Xét yêu cầu của G18 có căn cứ nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần K, nên giữ nguyên bản án sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

  1. Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty CP K chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DSST ngày 29/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38; Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 148; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 280, Điều 335, Điều 357; Điều 513; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị G16 với Công ty cổ phần K2
  2. Buộc Công ty cổ phần K cho bà Đỗ Thị G17 số tiền 22.628.731.503 đồng. Trong đó số tiền bà G3 chuyển cho Công ty cổ phần K 19.500.000.000 đồng, tiền lợi ích phát sinh với lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng Công ty cổ phần K trả cho bà G18 461.197.260 đồng, tiền lãi chậm trả là 2.667.534.243 đồng.

Trường hợp Công ty cổ phần K trả được số tiền cho bà G19 trả không đủ số tiền cho bà G20 buộc Công ty cổ phần K (nay là: Công ty cổ phần K trả thay cho Công

ty cổ phần K khi hoàn thành xong nghĩa vụ đối với bà G7 các thư bảo lãnh mà Công ty cổ phần K phát hành.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí: Công ty CP K chịu 130.628.732 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại bà Đỗ Thị G24 tiền tạm ứng án phí bà G3 nộp là 63.980.600 đồng theo biên lai thu số 0009416 ngày 11/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần K chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Công ty cổ phần K nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0009812 ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, được trừ vào tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm xét xử công khai và có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • -Viện kiểm sát TP Hà Nội;
  • -Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm;
  • -Chi cục THADS quận Nam Từ Liêm;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HSVA, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Lê Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 424/2024/TLPT-DS ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản.

  • Số bản án: 424/2024/TLPT-DS
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger